Tìm hiểu vài thể loại hò Nam Bộ xưa

0
66
Thời xưa, người lao động trên đồng ruộng thường giao lưu bằng những câu hò. Ảnh: DUY KHÔI

Theo các nhà nghiên cứu, hò Nam Bộ hình thành theo quá trình các lưu dân vào phương Nam khai khẩn, đa phần lấy ca dao làm nền tảng thể hiện qua giọng ngâm, ru có luyến láy. Dần dần qua mấy trăm năm, hò cũng như nhiều loại hình văn hóa đã có những biến đổi thích nghi với những điều kiện mới, trên vùng đất mới khai mở. Có nhiều thể loại hò trong sinh hoạt văn hóa, sản xuất ở Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX, nhưng khi thể hiện thì quy về 3 mối: “hò mép” còn gọi là “hò môi”, “hò văn” còn gọi là “hò sách”, “hò truyện” còn gọi là “hò tích”.

Hò mép là một loại hình mang tính ngẫu hứng, tức cảnh sinh tình, diễn ra trong một không gian, cảnh quan gắn liền với cảm xúc, cảm hứng của người thể hiện. Người hò mép thường có năng khiếu sắp đặt văn nói sao cho hợp vần, êm tai trong một thời gian rất ngắn ngủi:

“Vai mang nóp rách

Tay xách cổ quai chèo

Thương con nhớ vợ trông theo

Để bớt vận nghèo anh phải ra đi”

Hay:

Con chim nho nhỏ

Cái lông nó đỏ

Cái mỏ nó vàng

Nó kêu người ở trong làng

Đừng thương vải lụa phũ phàng vải bô

Sông nước miền Tây giúp hình thành nên những điệu hò nổi tiếng. Trong ảnh: Thương hồ chèo xuồng ở chợ nổi Ngã Bảy

(Hậu Giang) năm 2000. Ảnh: DUY KHÔI

Hò văn hay hò sách tức là vận dụng những câu văn trong sách nho ghép vào câu hò. Loại hò này đòi hỏi người sáng tác và người thể hiện phải có “kiến văn”, ít nhiều hiểu biết văn chương, điển tích, điển cố… để không nhầm lẫn trong dụng ngữ. Nhiều câu hò văn mang giá trị nội dung sâu sắc:

Sách có câu phu xướng phụ tùy

So hơn tính thiệt ích gì gia cang

Phu lìa thê như chim kia trích cánh

Thê lìa phu như như chim nọ lạc bầy

Thời Pháp thuộc ở nước ta, truyện và tích từ Trung Quốc khá phổ biến trong dân gian do có sự tương đồng về văn hóa phương Đông, cách ứng xử, nếp sinh hoạt, ăn ở… Các tuồng, tích cổ điển được dịch ra phổ biến rộng rãi trong dân gian. Dù vậy, hò truyện không đơn giản là kể lại những truyện tích kia, mà vận dụng những câu chuyện đó để chuyển tải những nội dung đề cao nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, phản ảnh được nội tâm của nhân vật và ý chí của chủ thể:

Chẳng thà em chịu đói chịu rách

Học theo cách bà Mạnh, bà Khương

Không thèm như con Võ Hậu đời Đường

Làm cho bại hoại cang thường hư danh

Tuy nhiên, không phải lúc nào các thể loại hò cũng rạch ròi, mà trong quá trình giao lưu biểu diễn đã phát sinh ra sự cộng hưởng, hòa nhập, thẩm thấu kết hợp giữa các thể loại hò. Ví dụ như kết hợp hò văn với hò truyện:

Quân vi thần cang

Phụ vi tử cang

Phu vi thê cang

Cố viết tam cang

Lòng em giữ trọn như nàng Nguyệt Nga

Hoặc sự kết hợp giữa hò mép với hò tích:

Đồng khô giếng cạn

Tôi mắc nghe lời chị bạn

Cho nên chiếc thuyền tôi mắc cạn nửa vời

Ba bốn nơi tới hỏi tôi lỡ thời không ưng

Bạch Viên đem lòng bội bạc

Cho nên anh Tôn Các ảnh hờn mát đem dạ hồi hương

Các tư liệu xưa và dân gian kể lại rằng, thuở xưa những người “chơi hò” đam mê rất mãnh liệt. Có thể đang ngủ ngon, bỗng giữa đêm giật mình chợt nghe trên sông vọng tiếng hò ngọt ngào, cũng bật dậy vội vã ra bến, nhổ sào, cố lướt thuyền theo tiếng hò còn vọng lại phía xa. Và khi đã đuổi kịp thì nhất thiết sẽ diễn ra cuộc hò đối đáp, và sau đó phải chia xa:

Chim vỡ ổ khắp ngàn xao xác

Gà gáy tan cả xóm vang vầy

Đôi ta từ giã chốn này

Để hai bên cô bác nghe rầy lỗ tai!

Và cuối cùng thì cũng phải chia tay, ai đi đường nấy, buồn vui ngậm ngùi:

Trời mọc bên Đông

Thức hồng chói rạng

Trăm thảm ngàn sầu giã bạn tri âm!

Từ xa xưa cho đến thời hiện đại, lịch sử đã chứng minh sự phát triển của xã hội dựa trên cơ sở những phát minh và sáng tạo, trong đó có sáng tạo trong văn học nghệ thuật. Từ những câu hò, đã dần phát triển, kết hợp nhiều loại hình sáng tạo dân gian để trở thành dân ca, lý… Qua tìm hiểu, nghiên cứu về hò, người ta có thể hình dung, mô phỏng lại một góc văn hóa của xã hội Nam Bộ thời xưa. Từ đó, góp phần xác định văn hóa, văn nghệ dân gian là một trong những thành phần, nhân tố cốt lõi tạo nên những giá trị tinh thần của dân tộc. Và văn chương bình dân như: hò, vè, ca dao, tục ngữ… là những giá trị văn hóa phi vật thể vô cùng quý giá.

Mai Lý (HNS)