23022018

Cập nhật lúc:12:04:33 PM GMT

Back Diễn đàn Mục lục: Lý luận - Phê bình MIỀN ĐÔNG THÀNH ĐỒNG

MIỀN ĐÔNG THÀNH ĐỒNG

  • PDF.

Trong chuỗi hoạt động nghệ thuật của dàn nhạc Nhà hát giao hưởng – nhạc – vũ kịch Tp. HCM (HBSO) để kỷ niệm 40 năm ngày thống nhất đất nước, đáng chú ý nhất là đêm công diễn lần đầu tiên bản giao hưởng “Miền Đông thành đồng” của nhà soạn nhạc Vĩnh Lai tại Nhà hát thành phố vào ngày 19/5/2015 vừa qua. Từ một dàn nhạc ban đầu có biên chế 2 quản, HBSO đã trưởng thành sau 21 năm với một biên chế 3 quản để giới thiệu bản giao hưởng đồ sộ này đến công chúng thành phố, nơi mà tác giả Vĩnh Lai luôn nặng tình ghi ơn. Không chỉ có mặt như một khán thính giả trong buổi ra mắt này, chúng tôi còn có cơ hội tiếp xúc với cả tác giả lẫn tác phẩm ít ngày sau đó.

Khán thính giả có mặt trong nhà hát đã bị thu hút cao độ trước tính sử thi nhưng không kém tính dân tộc và trữ tình của 4 chương giao hưởng.

Chương I. Allegro vivace (nhanh linh hoạt). Qua 40 nhịp của đoạn Mở đầu, người nghe cảm nhận được bầu không khí hào hùng, vững chắc nhưng không kém phần thơ mộng, trữ tình của đất nước và con người miền Đông Nam bộ. Chủ đề 1 do kèn Cor solo pha lẫn với tiếng campanelli như âm thanh róc rách của dòng suối trên nền của bộ dây ở âm vực thấp như hào khí trầm hùng của một vùng đất Đồng Nai của miền Đông thành đồng; âm nhạc mang đậm chất liệu dân ca Nam bộ, phảng phất màu sắc của điệu thức Dorien, diễn tả hình ảnh quê hương, nhân dân miền đất thành đồng luôn kiên cường trong lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm và xây dựng bảo vệ đất nước. Sau đó, chủ đề 1 được tiếp tục phát triển, mang tính dẫn giải giúp người nghe nhớ được nội dung và tính cách của con người nơi đây: mang tình yêu tha thiết, dạt dào, rực cháy và kiên nghị. Sự trình bày và phát triển chủ đề 1 kéo dài hơn 1/3 chương khắc họa vẻ mênh mông, bao la của một vùng quê hương đã bao dung, nuôi nấng, che chở cho nhiều con người, trong đó có chính tác giả được lớn lên, thành người, vượt qua nhiều gian khổ để đến tương lai tươi sáng hơn. Phần tiếp theo của chương được diễn ở tốc độ moderato - agitato (vừa phải – lay động) diễn tả chủ đề 2 mang màu sắc ngược lại và chỉ kéo dài hơn 1/2 phần mang chủ đề 1. Để chuẩn bị cho chủ đề 2, tác giả đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng bằng việc dùng kèn contrafagotto (kèn bassoon trầm) để dẫn dắt. Đây là chủ đề mô tả sự xâm lược, tàn bạo, do kèn bass clarinet đảm nhiệm với giai điệu trong điệu thức phrygien trên nền của tamburo (trống quân đội) như báo hiệu một mối đe dọa sắp đến. Điều đáng chú ý là đến gần nửa chương I mới thấy xuất hiện chủ đề 2. Hiếm thấy tác phẩm khí nhạc Việt Nam sử dụng 2 loại kèn gỗ trầm này. Tác giả đã khai thác toàn bộ tính năng nhạc cụ của dàn nhạc giao hưởng, phối hợp các bộ Gõ và Dây, sử dụng đến 3 kèn Trombone, 2 đàn harpe, kèn bass clarinet, kèn contrafagotto để diễn tả tính chất phức tạp và tàn bạo của chủ đề 2 này. Đáng ghi nhận là cách sử dụng piatti (cymbal, chũm chọe) chưa từng gặp trong âm nhạc kinh điển: dập hai tấm kim loại lại rồi chà xát kéo mạnh ra. Một hình ảnh của chiến tranh, cảnh chém giết tàn bạo hiện ra trong người nghe. Đặc biệt chủ đề 2 được viết ở nhịp 7/4 với tiết tấu dân gian của trống ngũ liên thường gặp khi có những biến cố (cháy nhà, đê vỡ, chiến tranh,...) xảy ra trong cộng đồng. Cả hai chủ đề của chương I mang hình thức sonate này được phát triển liên tục qua 3 lần tượng trưng cho ba giai đoạn lịch sử của cuộc đấu tranh dân tộc: chống quân xâm lược phương Bắc, chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ. Thủ pháp phát triển của tác giả đã tạo được nơi người nghe cảm giác gay gắt, mâu thuẫn rõ ràng giữa hai chủ đề diễn tả sự đấu tranh khốc liệt giữa điều thiện và cái ác. Để rồi, phần tái hiện của chương diễn ra khá ngắn, chỉ nhắc lại chủ đề 1 như một lời ca ngợi của tác giả dành cho quê hương, nhân dân miền Đông thành đồng kiên cường, anh dũng và chiến thắng.

Chương II. Lento – marciale funebre (chậm – hành khúc tang lễ). Nếu so với chương I, chương này khá ngắn đến gây tiếc nuối cho khán thính giả. Tác giả đã thành công khi tạo được tâm trạng thương tiếc, tiễn đưa các anh hùng, liệt sĩ, quân dân miền Đông Nam bộ đã hy sinh cho nền độc lập, tự do và hạnh phúc của dân tộc. Cái tiếc thương ấy tuy vô cùng nhưng không gây cảm giác thất vọng, tựa như sự hy sinh oanh liệt đã trở thành mầm xanh ươm cho tương lai đất nước nở hoa kết trái. Nếu hạt giống không chết đi thì làm sao mầm xanh nẩy lộc? Phần cuối của chương II mang âm nhạc da diết, phát triển dần lên đầy ước mơ và hy vọng. Ở đó có phần trầm của bộ kèn gỗ, kèn đồng mô tả hương hồn những người con miền Đông thành đồng đã anh dũng hy sinh để hóa thân vào lòng đất mẹ. Trao đổi với tác giả trước buổi diễn, chúng tôi được biết tác giả dành cái riêng của chương này để kính dâng hương hồn người cha của mình đã nằm xuống, đã đi vào cuộc hóa thân ấy cho quê hương. Điều đó tạo nên một cảm xúc chân thật cho người sáng tác, không vay mượn, không “viết theo đơn đặt hàng”; do đó, người nghe dễ xúc động và đồng cảm.

Chương III. Moderato – scherzando (vừa phải – vui đùa). Vẫn theo cấu trúc của một giao hưởng kinh điển từ Beethoven với chương III là mang tính scherzo (vui đùa, khôi hài), tác giả Vĩnh Lai dùng ngôn ngữ âm nhạc trong tempo vừa phải để tả về những khu rừng miền Đông Nam bộ (chiến khu Đ) gian lao mà anh dũng nhưng cũng không kém phần nên thơ, lãng mạn, có suối reo, chim hót, có những giọt nắng nhảy múa trên tán lá xanh. Có lúc âm nhạc sôi động hơn cho thấy hình ảnh của biển Đông dạt dào, mênh mông, bao la như lòng mẹ. Cũng có lúc giai điệu hào hùng khắc họa tính can trường của bao đời, bao thế hệ ông cha, con cháu đã hy sinh giữ gìn biển đảo chủ quyền của tổ quốc. Hai hình ảnh “Hương rừng”, “Tình biển” không đối chọi nhau mà ngược lại bổ sung cho nhau tạo nên một bức tranh quê hương tuyệt đẹp. Cách riêng ở chủ đề “Tình biển”, tác giả đã khéo léo phối hợp các kỹ thuật diễn tấu đặc biệt của bộ dây như: col legno (chính xác phải là: col legno battuto, nghĩa là “dùng vĩ đập vào vùng dây gần ngựa đàn”), sul tasto  (hay flautando, là kỹ thuật kéo vĩ trên các dây ở vùng cần đàn; kỹ thuật này rất thường được Debussy và Ravel sử dụng) với tiếng trầmhùng của phần contrabasso để diễn tả sự lao động cần cù của người dân vùng biển.

Chương IV. Allegro con fuoco – Festivo (nhanh với lửa nhiệt huyết – lễ hội). Ấn tượng đầu tiên của chúng tôi khi nghe những nhịp đầu tiên của chương này là vẻ hào sảng, trong sáng, nồng nhiệt và nghĩa tình của người miền Nam nói chung và của miền Đông Nam bộ nói riêng. Việc sử dụng bột trống Jazz vào chương III và IV của tác phẩm khiến cho âm nhạc của các chương này tuy vẫn giữ được không khí hoành tráng, đồ sộ, tươi trẻ thường gặp trong truyền thống giao hưởng kinh điển nhưng lại mang đậm chất liệu dân gian, bản sắc Nam bộ. Điều đó làm cho chương kết này vừa gần gũi với người nghe vừa không xa rời với chuẩn mực của loại hình âm nhạc bác học mà giao hưởng là một trong những đỉnh cao.

Phải mất hơn hai năm, bản giao hưởng “Miền Đông thành đồng” mới được hoàn tất trong âm thầm như những hoài niệm luôn cháy âm ỉ trong bầu nhiệt huyết của tác giả, như lòng biết ơn không phai nhạt mà Vĩnh Lai, người con của Sài Gòn dành cho thành phố nơi mình sinh ra. Gặp nhạc trưởng Trần Vương Thạch, người chỉ huy dàn nhạc trong đêm công diễn đầu tiên này, chúng tôi đã dành lời khen ngợi đặc biệt đến sự chỉn chu, âm thanh rất đẹp, ấn tượng mà anh và toàn bộ nghệ sĩ của HBSO đã cống hiến cho khán thính giả. Thành công của một tác phẩm không chỉ của người sáng tác, người biểu diễn mà còn có sự đóng góp của thính giả. “Miền Đông thành đồng” đã trở thành lời tạ ơn chân thành của nhạc sĩ Vĩnh Lai gửi qua khán thính giả có mặt trong nhà hát đến từng người dân của thành phố Hồ Chí Minh.

Th.S. Nguyễn Bách ANVN 39 (6/2015)


Bài liên quan:
Bài cũ hơn: