21022018

Cập nhật lúc:12:04:33 PM GMT

Back Di sản Mục lục: Nhạc khí cổ truyền Đàn tính hát then

Đàn tính hát then

  • PDF.

Đây là một loại hình văn hóa dân gian của người dân tộc Tày Nùng cũng như Thái ở biên giới phía Bắc, mang tên: "đàn tính hát then".

Từ những nghi lễ tín ngưỡng

Với đồng bào các dân tộc Tày Nùng Thái, "then nghĩa là thiên, là trời. Hát then là điệu hát của thần tiên truyền lại". Chính vì thế, trong đời sống của người Tày cổ, hát then được dùng trong những sự kiện trọng đại hay lễ cầu an, cầu mùa, gọi hồn… Đồng bào Tày quan niệm, những điệu then giúp gửi lời cầu khấn đến nhà trời, vì thế người hát, múa then trong những dịp lễ, tết là những người đại diện cho cộng đồng giao tiếp với thần linh.

Loại hình nghệ thuật dân gian này được phát triển và dần dần dân gian tự sáng tác theo cảm hứng của mình để miêu tả những mảng đời sống xã hội khác trong đó có tình yêu đôi lứa cũng như những câu chuyện thú vị khác xảy ra trong đời sống cộng đồng.

Hát then là một loại hình nghệ thuật tổng hợp chứa nhiều thành tố: Ngữ văn, âm nhạc, mỹ thuật, múa, diễn xướng dân gian có giá trị về lịch sử, văn hoá, xã hội và nhiều giá trị khác. Then được sử dụng vào những dịp trọng đại của làng, xã như: hội làng, cầu đảo hay của từng gia đình, dòng họ như: vào dịp năm mới, con đầu lòng, then còn được hát với mục đích giải, trừ tà, chữa bệnh. Trong không khí linh thiêng, lời ca, điệu múa và âm nhạc hoà quyện rộn ràng, say đắm đưa người nghe, người xem đến những xúc cảm thẩm mỹ cao độ. Ở đây, người hát và đàn không phải là nghệ sĩ nhưng do yêu thích họ tự nguyện cùng quây quần với nhau sáng tác, trình diễn và biến loại hình này thành di sản văn hóa của cộng đồng.

Cỡ đàn đi theo cỡ giọng người hát

Tính tẩu (hay tinh tẩu) là nhạc cụ khảy dây được dùng phổ biến ở một số dân tộc miền núi tại Việt Nam như người Thái, người Tày,... Ở vài vùng thuộc Trung Quốc, Lào, và Thái Lan người ta nhận thấy cũng có nhạc cụ này. Trong tiếng Thái, tính có nghĩa là đàn, còn tẩu là bầu (quả bầu), dịch ra tiếng Việt, tính tẩu có nghĩa là đàn bầu. Để khỏi nhầm lẫn với loại đàn bầu của người miền xuôi, nhiều người gọi tính tẩu là đàn tính.

Đối với dân tộc Thái tính tẩu là nhạc cụ chính, dùng để độc tấu, đệm hát và chơi giai điệu múa. Các chàng trai người Thái vừa đàn tính tẩu vừa múa bằng nhạc cụ này. Khi đệm hát, tính tẩu thường chơi giai điệu của lời ca. Trong nhạc múa tính tẩu có những bài bản riêng. Tính tẩu thuộc bộ dây, âm vực có thể đạt tới 3 quãng tám. Tuy nhiên người diễn chỉ sử dụng những âm trong vòng 2 quãng tám và một vài âm hơn nữa.

Tính tẩu có những bộ phận chính như sau: Bầu vang (bộ phận tăng âm), làm bằng nửa quả bầu khô (cắt ngang). Kích cỡ bầu vang có thể thay đổi tùy theo quả bầu lớn nhỏ, song đường kính thường từ 15 đến 25cm. Để có độ vang, âm sắc chuẩn người ta thường chọn quả bầu tròn và dày đều để làm bầu vang. Mặt đàn thường làm bằng gỗ cây ngô đồng xẻ mỏng khoảng 3mm. Trên mặt đàn có khoét 2 lỗ hình hoa thị để thoát âm (trước kia 2 lỗ hoa thị được khoét ở phía sau bầu đàn). Ngựa đàn tương đối nhỏ trên mặt đàn.

Cần đàn bàm bằng gỗ dâu hay gỗ thừng mục, nhẹ và thẳng. Cần đàn dài khoảng 9 nắm tay của người chơi đàn. Theo kinh nghiệm dân gian, "số đo" cỡ nào thì hợp với cỡ giọng hát của người có số đo ấy. Phần dưới của cần đàn xuyên qua bầu vang, còn phần trên cùng là đầu đàn uốn cong hình lưỡi liềm hoặc đầu rồng, phượng… Mặt cần đàn trơn, không có phím như đàn tam. Hốc luồn dây có 2 hoặc 3 trục dây.

Dây đàn trước làm bằng tơ xe, nay là nilon. Tính tẩu có loại 2 dây và loại 3 dây tùy theo từng vùng và từng chức năng âm nhạc. Loại 2 dây phổ biến ở Thái, Tày, thường được chỉnh cách nhau 1 quãng bốn đúng hay quãng năm tùy theo hàng âm của giai điệu hoặc bài nhạc múa. Loại có 3 dây thường do người Tày sử dụng. Họ thêm 1 dây trầm giữa 2 dây kia. Âm thanh của dây trầm thấp hơn dây cao 1 quãng tám đúng. Loại 3 dây được gọi là tính then (đàn then) thường dùng trong nghi lễ Then để phân biệt với loại 2 dây là tinh tẩu dùng để đệm hát và múa.

Tiếng của bản làng

Tính tẩu có âm sắc êm dịu, thanh thoát. Khi phát ra âm cao nó gần giống với tiếng đàn tam. Lúc sản xuất âm trầm nó cho người nghe cảm giác hơi mờ ảo. Theo cách đánh đàn xưa, người diễn không dùng que khảy mà chỉ khảy bằng ngón tay trỏ của tay phải. Ngón cái và giữa giữ cần đàn ở nơi gần sát bầu đàn. Ngón trỏ khảy xuống và hất lên luân phiên khi chơi giai điệu nhanh. Còn nếu giai điệu chậm thì ngón trỏ chỉ khảy xuống.

Kỹ thuật tay phải gồm có ngón vê, ngón phi và đánh âm nền … Riêng về tay trái gồm có các thế bấm như ngón rung, ngón vuốt, ngón vê, ngón phi, ngón luyến và âm bội. Trong thập niên 1970, một số nghệ nhân đã thể nghiệm cải tiến đàn tính tẩu bằng cách lắp thêm dây vào cần đàn (khoảng 4, 5 dây). Do yếu tố này họ phải làm cần đàn và bầu đàn lớn hơn khiến ngón bấm khó chính xác. Một số người lại dùng que khảy thay đầu ngón tay. Kết quả âm sắc không giống đàn tính tẩu gốc mà lại giống đàn banjo (loại alto). Một số người khác thay gỗ để làm bầu đàn, âm thanh phát ra đanh và khô không đẹp như bầu đàn quả bầu khô. Nhìn chung, những cách cải tiến kể trên không gặt hái thành công.

Đàn tính có khi được những người hát sử dụng cùng lúc và làm cho âm thanh trở nên rộng và sâu hơn trong không gian nơi trình diễn. Trang phục của người đàn và hát rất huê dạng, đầy màu sắc hoa văn. Trang phục là nét chính khiến buổi trình diễn hấp dẫn hơn.

Một buổi hát then thường thấy là người hát và người múa ngồi chung với nhau. Động tác múa rất đơn giản chỉ sử dụng đôi tay lập đi lập lại những mô típ rung chuyển và di dộng nhẹ nhàng thường thấy trong các nghi thức tín ngưỡng của người Tày, Nùng tại vùng Việt Bắc.

Cũng có những màn hát múa được biên tập và trình diễn bởi những nghệ sĩ chuyên nghiệp của các đoàn văn công, nhưng người ta vẫn thích được ngồi ngắm người nghệ sĩ của bản làng mình hơn là những âm thanh từ loa điện tử cộng với ánh đèn chói chang của sân khấu.

Nguyệt Minh ANVN 30 (07/2013)


Bài mới hơn:
Bài cũ hơn: