17022018

Cập nhật lúc:12:04:33 PM GMT

Back Di sản Mục lục: Nhạc khí cổ truyền Nhạc khí trong “dàn đờn” tài tử Nam bộ (Phần 2)

Nhạc khí trong “dàn đờn” tài tử Nam bộ (Phần 2)

  • PDF.

3. Những nhạc khí khác trong dàn đờn Tài tử:

Ở thập niên 20 – 30 thế kỷ XX, đàn đoản, đàn sến, đàn tam... xuất hiện ở các gánh Cải lương và ở đôi nơi cũng thấy được sử dụng hòa đàn trong nhóm Đờn ca Tài tử.

- Đàn sến:  được các nhạc sĩ Tài tử đưa vào những cuộc hòa đờn, tất nhiên chỉ đàn những bài Bắc và nhạc Lễ. Theo nhiều nhạc sư, nhạc sĩ Tài tử, đàn sến khi tham gia dàn hòa đờn Tài tử cùng với đàn kìm thì nên đàn ít chữ lại và hay có tiếng “vuốt” (tay phải đàn lên tiếng rồi tay trái nhấn vuốt trên cần đàn, tạo âm thanh có hiện quả luyến liền bậc từ thấp lên cao hoặc ngược lại...) để tạo nét riêng vì cùng âm sắc. Loại nhạc khí này thích hợp với dàn nhạc sân khấu Cải Lương, với lối dàn rôm rả, “xôm tụ”...  Khoảng năm 1936 – 1939, ở Cần Đước, Cần Giuộc – Long An nổi tiếng có nhạc sĩ Ba Phụng đờn sến. Khoảng thời gian sau đó, ít thấy đàn sến được các nhạc sĩ Tài Tử sử dụng nhiều nữa mà lại thường thấy hiện diện ở dàn nhạc sân khấu Cải Lương.

- Theo một số tài liệu, vào thập niên hai mươi – thế kỷ XX (những năm 1925  -1930) dàn đờn của sân khấu cải lương có thêm đàn đoản và đàn tam. Trong một số cuộc hòa đờn tài tử, các nhạc sĩ cũng thích sử dụng nhạc khí này. Một số nhạc sĩ thường chọn nhạc khí này để khởi đầu cho việc học đàn Tài tử. Nhưng về sau, cũng như đàn sến, nhiều người sử dụng đàn đoản hay đàn tam như “nghề tay trái”, đưa vào dàn đờn Tài tử như những cách “làm mới” lối hòa đàn hoặc của chính người đàn. Đàn sến, đàn tam hay đàn đoản cùng sử dụng bài đàn kìm nhưng người đàn sẽ “sắp chữ đờn” khác đi, hoặc chủ ý thêm thắt, mở rộng... cho bài hòa đàn thêm thú vị, mới lạ. Trên thực tế, các nhạc khí này chỉ có lợi thế khi đàn những “bản Bắc”, không thể “đờn mùi mẩn” những bản Nam, Oán  như các nhạc khí khác...

Theo nghiên cứu và những bài giảng của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo  mà chúng tôi được thầy trực tiếp giảng dạy, những nhạc khí như đàn mandoline, đàn guitare, đàn guita-mando hay đàn octavina... được xem là những thể nghiệm trong dàn hòa đàn Tài tử.

Theo nhạc sư, thời Pháp thuộc, ít nhạc sĩ nhạc truyền thống được biết cây đàn mandoline. Lúc đó, đờn có thùng bầu dục, cần ngắn, tra 4 dây đôi bằng thép. Mặc dù sau này, đàn mandoline rất phổ biến ở các tỉnh Nam Bộ , nhưng vào thời kỳ đó, loại đàn này được nhập từ Pháp và chỉ có vài bà “đầm” khi rỗi rảnh ngồi nhà ôm đàn chơi giải muộn.

Khoảng năm 1930 tại Rạch Giá có thầy giáo Tiên là người đầu tiên dùng đàn mandoline để đàn bản Việt. Lúc bấy giờ bản đờn truyền thống soạn đơn giản ít có nhấn nhá nên nhờ ngón đàn tươi mướt của Thầy giáo Tiên, một số người chơi nhạc truyền thống bắt đầu sử dụng đàn mandoline, trong đó có nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo. Tại Sài Gòn, nơi đường Lagrandière (sau đổi thành đường Gia Long, nay là Lý Tự Trọng) có tiệm làm đàn hiệu Mélodie của ông Hội Khanh (một họa sĩ) và nhà sản xuất Trần Đình Thư ở Hà Nội sản xuất và bán đàn mandoline. Đàn sản xuất do 2 nơi này có dáng vóc đẹp, âm thanh tốt. Nhưng đàn sản xuất do nhà làm đàn Trần Đình Thư ở phần chóp đầu cần đàn làm cong lại làm thành hình con dơi; phím đàn, thay vì khảm bằng dây thau thì được khảm bằng cọng  thủy tinh lấy từ bóng đèn điện, không bị dây đàn làm trầy đầu phím đàn.

Do gợi ý của người chơi, đàn mandoline được nhà sản xuất khoét cần đàn cho lõm phím. Những năm 1932 -1933, trong những buổi hòa đàn Tài tử, những bài Bắc như Kim Tiền, Bình Bán... được đàn bằng đàn mandoline 4 dây này. Tiếng đàn reo vui nhưng không thể nhấn rung mềm mại, uyển chuyển như đàn kìm, đàn tranh được.

Chưa hài lòng, khoảng năm 1934, dựa vào ý kiến của người chơi đàn, những nhà sản xuất đàn tại đường Hamelin (Hồ Văn Ngà, nay là đường Lê Thị Hồng Gấm) đóng ra đàn guitare nhỏ hơn đàn guitare thông thường khoảng “một sáu – một mười”, khoét phím sâu, điều chỉnh khoảng cách của các phím theo cung bực nhạc truyền thống và tra 4 dây, gọi là đàn Guitare – Mando. Sau, có người cho nó cái tên là đàn “Octavina” (danh từ này không có mặt trong tự điển, và cũng không rõ người đầu tiên đặt tên nhạc khí này là ai) . Thời điểm này có những nhà sản xuất đàn nổi tiếng như Phùng Đinh, Trần Rắc, Mười Út . Đàn do nhà sản xuất Mười Út đóng có dáng dấp đẹp, âm thanh trội hơn, phím gắn chính xác hơn các đàn của tiệm Phùng Đinh, Trần Rắc.

Những người chơi đàn guitare – mando được nhiều người biết đến là nhạc sĩ Armand Thiều, cựu sinh viên trường trung học Huỳnh Khương Ninh, nhạc sĩ Hai Duyên (ở Cần Thơ), ông Nguyễn Văn Kế (vũ sư), Bảy Bá (soạn giả Viễn Châu), Hai Long... Dần dà về sau không thấy người nào chơi đàn mandoline hay đàn Guitare – mando, đàn octavina... trong dàn đờn Tài Tử nữa.Khoảng đầu năm 1945, người chơi đàn lại chuyển qua dùng đàn guitare kích thước thông thường và dần dần đi đến gắn điện, khuếch đại âm thanh. Đờn guitare lõm phím gắn điện được đưa vào dàn đờn sân khấu Cải Lương đồng thời được xem như cây đàn chánh (leader instrument) thay cho đàn kìm của dàn đờn, bởi cả đào, kép, khi ca thường lắng nghe đàn guitare hơn các cây đàn khác. Nhưng thay vì đàn có 6 dây, giờ đây người ta bớt đi 1 dây còn 5, bởi chơi nhạc truyền thống không có như cầu sử dụng dây thứ 6. Một số nhạc sĩ chơi guitare lõm phím vang bóng một thời như: Hai Nén ở xóm Gà (Gia Định), anh Một ở xóm Gà (Gia Định), Văn Vĩ, Duy Trì, Sáu Khỏe, VănGiỏi (ở Sài Gòn và đều khiếm thị), Tư Xiếu (Bến Tre), Ba Lích (Long Xuyên ), Năm Cơ (Trà Vinh), Sáu Hướng (Đồng Tháp)...

-Đàn Violon: ở Nam Bộ phổ biến với tên gọi “đờn vỹ cầm”. Theo nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, ông Jean Tịnh (trước làm việc ở đài Phát thanh Pháp Á) là người diễn tấu đờn vỹ cầm hòa cùng với nhạc sĩ Phụng (đàn kìm) nhạc sĩ Lang (đàn tranh) đệm cho cô Hai Đá ca bài Vọng cổ nhịp 8, với lời “Gió bấc lạnh lùng...” thu vào đĩa  Béca khoảng năm 1936. Sau ông Jean Tịnh, năm 1937, ông Mười Còn (Cần Đước, Long An) là nhạc sĩ đờn cò, sau chuyển sang sử dụng đàn violon. Nhạc sĩ Mười Còn được xem là người đầu tiên sử dụng cây đàn violon theo cách riêng của mình để làm giàu cho dàn nhạc Tài tử. Ông không đặt đàn dưới cằm như tư thế của dàn violon mà đặt trên đùi, kéo vĩ theo hướng ngang... Tiếng đàn ông nổi tiếng mực thước, chín chắn, ngọt ngào, mượt mà... được nhạc giới hết sức khen ngợi.

Sau ông Mười Còn, người ta cũng thấy nhiều nhạc sĩ khác cũng chơi violon, nhưng thường là trong dàn đờn của sân khấu Cải Lương hơn, trong đó có các nghệ sĩ rất nổi tiếng trong nhạc giới Tài tử như: Tư Huyện (Nguyễn Thế Huyện, Cần Đước), hai Thơm, Tư Còn, Nguyễn Thanh Nha ... Đó là những tay đàn nổi tiếng với tiếng đàn ẻo lả, mượt mà, mùi mẩn... Nhìn chung, những người sử dụng violon trong dàn nhạc Tài tử hay dàn nhạc Cải lương đa số là các nhạc sĩ đàn cò, họ thường đàn theo bản đàn và chữ đàn cò. Tuy nhiên, với số dây nhiều gấp đôi so với đàn cò (4 dây thay vì 2 dây đàn cò), thêm 2 dây thấp... nên nhiều nhạc sĩ Tài tử cho rằng đàn vĩ cầm là kết hợp 2 cây đàn cò và gáo. Nếu không giỏi nghề, người chơi đàn violon khó có thể “mở rộng” bài bản để thể hiện được trên cả 4 dây (được xem là “2 nhạc khí”) và càng khó có thể đưa ra những chữ đàn mới, hay, phát triển cho câu nhạc mượt mà, phóng túng được.

Ngày nay, ngoài sân khấu Cải lương, đàn guitare lõm phím lẫn đàn violon cũng  thường xuyên hiện diện trong âm nhạc Tài tử Nam Bộ, trái với những năm 1935 - 1945, người chơi đàn Tài tử rất  “kỵ”, nhất là những nhạc sư nổi tiếng trong nghề như các ông Cao Huỳnh Cư, Cao Hoài Sang... đều không cho là hai nhạc cụ này  thuộc dàn đờn Tài tử.

Đàn guitare Hawienne (còn gọi là đàn Hạ Uy Di, Hạ Uy Cầm...) thâm nhập vào giới nhà giàu ở Sài Gòn vào những thập niên 60 – 70 thế kỷ XX. Người ta thấy loại nhạc khí này được sử dụng ở những ban nhạc Phi Luật Tân (Philippine) tại các phòng trà, hộp đêm... Đàn guitare hawienne giống như guitare điện, có 6 dây. Điểm đặc biệt là đàn được đặt nằm ngang khi diễn tấu (thường là được đặt trên đùi khi người diễn tấu ngồi đàn). Người diễn tấu mang các “móng” bằng nhựa ở các ngón cái, trỏ giữa của bàn tay phải và gẩy lên dây, các ngón của tay trái giữ 1 con lăn bằng thép (inox) hoặc bằng thủy tinh, miết trên phần dây bên tay trái (trên các phím).Giới nghệ sĩ Tài tử cũng thích thể nghiệm vì đàn guitare hawienne có thể nhấn rung bằng các “con lăn” trên dây, tạo những âm thanh gần giống với tiếng đàn guitare lõm phím gắn điện nhưng uyển chuyển hơn, mềm mài, ẻo lả hơn... Nhạc sĩ Năm Vĩnh được biết đến không chỉ với tiếng đàn kìm “thần sầu” mà còn là người đàn guitare hawienne mượt mà. Tuy nhiên, đàn guitare hawienne không tồn tại lâu trong các buổi hòa đàn Tài tử mà lại được các nhóm nhạc lễ, ban nhạc Cải lương tiếp thu và hết sức đắc dụng.

Với tính chất “tài tử”, hiểu theo nghĩa “không chuyên nghiệp”, biên chế các nhạc khí dàn đờn Tài tử không bị bắt buộc bởi số lượng hay loại nhạc khí nào ngoài yêu cầu phải thể hiện được chữ “hòa”, có thể là hòa điệu nhưng cũng có nghĩa là hòa sắc, tức âm sắc của các nhạc khí với nhau...

4. Hòa sắc, không hòa âm

Hòa đàn Tài tử là lối chơi theo thẩm mỹ: hoà sắc không hoà thanh, không theo lối ba, bốn bè ở các âm vực cao, trung, trầm... như âm nhạc phương Tây. Ngoài hình thức độc tấu, những hình thức song tấu, tam tấu, tứ tấu, hoà ca v.v… thường thấy trong hình thức hoà đờn, hoà ca Tài tử. Những nghệ sĩ Tài tử thích kết hợp hai hay nhiều nhạc cụ có âm sắc khácnhau. Xưa nay, Đờn ca Tài tử chuộng lối hòa đàn từ hai đến năm nhạc khí. Đàn Kìm hòa với tranh – tiếng tơ với tiếng sắt, hoặc  kìm hoà với  cò – nhạc cụ dây gẩy với nhạc cụ dây kéo. Câu nói cửa miệng của nhạc giới là “sắt cầm hảo hiệp” để chỉ song tấu đàn cò – đàn tranh, đàn kìm – đàn tranh, “Tam chi liên hoàn pháp” để chỉ lối hoà tấu ba nhạc cụ: đàn kìm – đàn tranh – đàn cò, đàn kìm - đàn tranh - đàn độc huyền (đàn bầu), đàn tranh – đàn cò – đàn độc huyền... Hoặc, đơn giản hơn, nhạc giới có cách liệt kê và kết hợp pha trộn các nhạc cụ hòa tấu theo thứ tự: “kìm – cò – tranh – độc - tiêu” v.v…

Cách hòa đàn “tâm đắc” nhất của nhạc giới Tài tử, theo nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo là:

-Song tấu: đàn kìm và đàn tranh; đàn kìm – đàn cò; đàn kìm – đàn bầu

-Tam tấu: đàn kìm – đàn tranh - đàn cò, đàn kìm – đàn cò – đàn bầu

-Tứ tấu: đàn kìm – đàn tranh – đàn cò – đàn tam hoặc tứ tấu đàn kìm – đàn tranh – đàn cò – đàn tỳ bà (vào những năm 30 thế kỷ XX, nhưng hai nhóm này thích hợp với những bản Bắc, Lễ).

-Ngũ tuyệt: đàn kìm – đàn cò – đàn tranh - đàn độc huyền và thêm ống tiêu (loại 5 lỗ)

Trong hoà tấu Tài tử xưa không thấy xuất hiện những nhóm hoà đàn có hai hay ba nhạc cụ cùng âm sắc. Xu hướng đưa vào dàn hòa tấu thật nhiều nhạc cụ, thậm chí các nhạc cụ cùng âm sắc như kìm, guitare phím lõm, sến, đoản, tam... của một số nhóm đờn ca Tài tử ngày nay chỉ làm cho rầm rộ, xôm tụ chứ không thể hiện được đặc điểm hoà sắc các nhạc cụ của lối hoà tấu Tài tử. Nhiều nhạc cụ cùng âm sắc, khi chơi cùng nét giai điệu hoặc khả dĩ có thể ngẫu hứng, thêm thắt hoa lá cũng dễ bị lẫn vào nhau, không thể bày ra hết được những nét riêng của từng nghệ sĩ, những nét nhấn nhá sâu sắc trong từng cung bậc, vốn là đặc trưng của âm nhạc Tài tử.

Tuy chọn lựa nhạc khí để “hòa sắc”, để tạo nên những âm thanh phù hợp phong cách... nhưng trong điều kiện dân dã, dàn đờn Tài tử cũng có thể là bất cứ nhạc khí nào. Yêu cầu trong hòa đờn ca là người nghệ sĩ phải biết hòa điệu, biết nhường nhịn, nhưng cũng biết quăng bắt... cho ra chất Tài tử. Ngày nay, do lẫn lộn giữa phong cách Tài tử và Cải lương nên dàn đờn Tài tử ít được chăm chút, người ta không nắn nót từng chữ đàn, không tạo ra những câu nhạc, chữ đàn riêng, mỗi nhạc sĩ khồng còn tạo lối thêm thắt hay nhấn nhá mang cá tính nữa. Trong các buổi hòa đờn ca, người ta chỉ cố đàn cho đủ những chữ đờn của thầy, hoặc theo bài bản ghi sẵn, hoặc bắt chước chữ đàn của nhau mà thôi. Từ đó, dàn đờn Tài tử, những lựa chọn nhạc khí, tính chất hòa sắc đã không còn là mối quan tâm trong buổi hoà đờn Tài tử nữa mà chỉ cốt “rôm đám, xôm tụ”...

Tạm kết

Với phong cách Tài tử, là “nghề chơi” nên các nhạc sĩ Tài tử đã không ngừng tìm tòi, tạo tác, thể nghiệm đưa vào dàn đờn nhiều nhạc khí khác nhau. Đàn tam, đàn sến, đoản, mandoline, guitare, violon, guitare hawienne... và có thể sau này là đàn orgue điện tử... đã được các nghệ sĩ Tài tử thể nghiệm, sử dụng. Nhưng đó cũng chỉ là những “thể nghiệm, tìm tòi” của các nhạc sĩ Tài tử, để rồi theo quá trình chọn lọc, với lối chơi thanh cảnh của giới Tài Tử, những gì không thích hợp sẽ dần dần tự rời khỏi những buổi hòa đàn.

Cuối cùng, âm nhạc Tài tử luôn được xem là một thể loại âm nhạc độc đáo, có đặc trưng riêng và nhất là hệ thống những nguyên tắc, những lề luật “bất thành văn” trong nhạc giới Tài tử, một phong cách riêng nghiêm ngặt ở nhiều phương diện. Dù chỉ bàn về biên chế của dàn đờn Tài tử, các nhạc khí được đưa vào dàn đờn Tài tử, người ta vẫn thấy thể hiện những lề luật, phong cách riêng của thể loại âm nhạc đặc trưng này của vùng đất Nam Bộ.

Nguyễn Thị Mỹ Liêm ANVN14 (10/2010)