23022018

Cập nhật lúc:12:04:33 PM GMT

Back Di sản Mục lục: Nghệ thuật dân gian Nhạc võ Tây Sơn

Nhạc võ Tây Sơn

  • PDF.

Hàng năm vào ngày mùng 5 Tết âm lịch, lễ hội kỷ niệm Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa được tổ chức tại hai địa điểm chính: di tích lịch sử Gò Đống Đa (Hà Nội) và di tích Điện Tây Sơn Tam Kiệt (Bình Định). Một số các tỉnh, thành khác trong nước cũng tổ chức như TP.Hồ Chí Minh thường tổ chức tại Cung Văn hóa Lao động.

Ở Hà Nội, sau ngày giải phóng Thủ đô, hàng năm lễ hội Chiến thắng Đống Đa được tổ chức với quy mô ngày càng lớn. Cũng vào ngày này, từ năm 1960 tại Tây Sơn (Bình Định), Lễ hội Đống Đa được tổ chức hàng năm vào ngày mồng 5 Tết. Đây là lễ hội truyền thống lớn nhất của tỉnh Bình Định. Địa điểm hành lễ là Điện thờ Tây Sơn Tam kiệt, tại làng Kiên Mỹ (đất Tây Sơn cũ), xã Bình Thành, quận Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn). Điện thờ có ba gian, gian giữa thờ Quang Trung, hai gian ở hai bên thờ vua Thái Đức và Đông Định vương cùng các tướng sĩ. Đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt vừa được Chính phủ xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt.

Trong các kỳ lễ hội này không thể thiếu phần biểu diễn tiết mục Nhạc võ Tây Sơn. Tương truyền, bí kíp Nhạc võ Tây Sơn – Bình Định có đến 72 bài múa võ đánh trống. Tuy nhiên, cho đến nay, hầu như đã bị thất truyền gần hết, chỉ còn lại 5 bài còn lưu truyền ở huyện Tây Sơn - Bình Định. Đó là các bài “Khai trường”, “Xuất quân”; “Hành quân”; “Công thành” và “Khải hoàn” được nghệ sĩ Nguyễn Thị Thuận cùng Dàn Nhạc võ Tây Sơn ở Bảo tàng Quang Trung (huyện Tây Sơn) biểu diễn, gồm 3 hồi; Xuất quân, Xung trận – Công thành, Khải hoàn, và điều đặc biệt nhất là không hề có hồi lui quân như trống trận các triều đại khác. Điều này cũng thật dễ hiểu vì trong cuộc đời cầm quân của mình, Quang Trung chưa một lần phải lùi bước trước quân thù.

Dàn Nhạc võ Tây Sơn gồm bộ trống võ Tây Sơn và các nhạc cụ hợp tấu. Ngày xưa, dàn nhạc võ Tây Sơn gồm mười sáu trống chiến, ngoài ra còn có tù và, kèn, chiêng, phèng la… là những nhạc cụ hỗ trợ. Trống chiến là linh hồn của nhạc võ. Khi đánh trống, hai bàn tay cầm dùi trống của nghệ nhân phụ trách mười hai chiếc, bốn chiếc còn lại đánh bằng hai gót chân và hai khuỷu tay.

Dàn nhạc võ Tây Sơn ngày nay vẫn gồm đủ trống chiến, kèn xô-na, chiêng, phèng la, nhưng chỉ còn mười hai trống, tượng trưng cho thập nhị địa chi (Tý, Sửu, Dần, Mão...), xếp thành ba bậc trên giá đỡ, ứng với triết lý tam tài (Thiên - Địa - Nhân).

Qua nghiên cứu, so sánh, đối chiếu, có thể thấy dàn Nhạc võ Tây Sơn bao gồm 4 bộ: bộ dây, bộ hơi, bộ màng và bộ tự thân vang. Đó là các nhạc cụ: đờn cò (đàn nhị) thuộc Chi dây kéo (cung vĩ) của bộ dây, kèn Xô na (kèn bầu) thuộc Chi hơi dăm kép của bộ hơi, trống chầu (trống cái), trống võ Tây Sơn thuộc Chi màng rung gõ của bộ màng, mõ (mõ làng, mõ trâu), phèng la, cồng, chiêng, phách thuộc Chi tự thân vang gõ, chập chõa (não bạt) thuộc Chi tự thân vang dập, lắc, sênh tiền thuộc Chi tự thân vang gõ, quẹt, lắc của bộ tự thân vang.

Hiện nay tại Bảo tàng Quang Trung, dàn nhạc võ Tây Sơn gồm các nhạc công: Nghệ nhân Nguyễn Thị Thuận (sử dụng trống võ Tây Sơn), Phan Văn Thức (kèn Xô na), Hồ Sỹ (trống chầu), Phan Thị Mai (mõ, cồng), Dương Thị Hương (chập chõa), Nguyễn Xuân Hổ (đàn nhị). Sự rút gọn biên chế là do kinh phí nên có người sử dụng hai nhạc cụ (mõ, cồng) thậm chí có khi bớt đi đàn nhị vì có giai điệu giống kèn Xô na. Nhiều người vẫn lấy làm tiếc về trường hợp nghệ nhân Nguyễn Thị Thuận: chị là người có công biểu diễn, bảo tồn nhạc võ Tây Sơn trong 40 năm qua, đã đem về cho quê hương Bình Định nhiều huy chương vàng toàn quốc, nhưng đến nay vẫn chưa được phong Nghệ sĩ ưu tú hoặc Nghệ sĩ Nhân dân hoặc Nghệ nhân Dân gian!

Từ rất lâu, Nhạc võ Tây Sơn đã xuất hiện trong một số lớp tuồng cổ với những phần múa võ trên nền Nhạc võ Tây Sơn, nhất là trong một số lớp tuồng mới sáng tác như: “Mặt trời đêm thế kỷ” (tác giả: Lê Duy Hạnh), “Trời Nam”, “Bùi Thị Xuân hồi kết cuộc”, “Tây Sơn tụ nghĩa” do NSƯT Hoàng Ngọc Đình, nguyên giám đốc Nhà hát Tuồng Đào Tấn đạo diễn đã đoạt nhiều giải thưởng và huy chương vàng toàn quốc từ năm 1995 đến nay. Nhạc sĩ Đào Duy Kiền – nhà nghiên cứu văn hóa dân gian (nguyên chỉ huy dàn nhạc Nhà hát Tuồng Trung Ương, sau ngày đất nước thống nhất về công tác tại Nhà hát Tuồng Đào Tấn, Bình Định) đã nghiên cứu tìm tòi, khai thác được một số bài bản cổ. Trong quá trình nghiên cứu bộ trống 12 chiếc trong dàn Nhạc Võ Tây Sơn, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, NSƯT Đào Duy Kiền đã ký âm và từ đó vận dụng những chất liệu của nhạc võ Tây Sơn để sáng tạo âm nhạc trong các vở tuồng dàn dựng biểu diễn ở Nhà hát Tuồng Đào Tấn (tỉnh Bình Định). Ông đã sáng tác nhiều tiểu phẩm và các ca khúc trong các vở tuồng dựa trên chất liệu âm hưởng của Nhạc võ Tây Sơn, trong đó tiêu biểu là nhạc mở màn cho vở “Quang Trung đại phá quân Thanh” (tác giả kịch bản: Trúc Đường, đạo diễn: Hoàng Chương).

Tuyệt tác của Dàn Nhạc Võ Tây Sơn không chỉ thông qua sự phối hợp tài tình giữa những đặc tính dũng mãnh, uy lực của trường phái võ thuật dân tộc, với những thuộc tính mềm mại, uyển chuyển của nghệ thuật âm nhạc dân gian, mà còn có những đặc trưng và mối giao cảm tương tác, trong đó Võ và Nhạc có mối quan hệ biện chứng: khi lấy Võ làm chủ đạo trong luyện tập thì Nhạc góp phần mang tính chất phụ họa, và ngược lại khi lấy Nhạc; làm chính thì Nhạc góp phần quan trọng làm cho Võ thêm hương sắc, bớt thô cứng, đơn điệu, và càng thêm uy lực cho cả dàn Nhạc Võ Tây Sơn.

Chính sự phối hợp phát triển đến hoàn hảo và sự hòa quyện đến tuyệt vời của Dàn Nhạc Võ Tây Sơn huyền thoại này, đã tạo nên những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc, có sức sống mãnh liệt, trường tồn, vẫn tỏa sáng và sống mãi trong lòng người dân nước Việt.

Có nhiều tên gọi khác nhau để chỉ cùng một bộ trống xuất hiện từ thời Tây Sơn: Trống võ Tây Sơn, Trống trận Tây Sơn, Trống trận Quang Trung, Nhạc võ Tây Sơn…Tên gọi Trống võ Tây Sơn xuất hiện cùng với sự hình thành của môn phái võ Tây Sơn, khi đưa ra trận lại có tên Trống trận Tây Sơn hay như sau này có người gọi là Trống trận Quang Trung. Thời Tây Sơn, khi vua Quang Trung ra trận có sử dụng dàn Nhạc võ Tây Sơn: đi đầu là bộ phận của chiêng, trống, rồi đến dàn Nhạc Võ đặt trên một chiếc xe đẩy (Nhạc trưởng đứng giữa, hai bên là bốn nhạc công: đờn, kèn, chập chõa, mõ phụ họa). Do đó, Trống võ Tây Sơn, Trống trận Tây Sơn, hay Trống trận Quang Trung chỉ là một bộ trống thời Tây Sơn, không thể bao hàm ý nghĩa Nhạc võ Tây Sơn, mà chỉ là một bộ phận trong biên chế dàn nhạc võ Tây Sơn.

Trống võ Tây Sơn gồm một bộ 12 cái, tượng trưng cho 12 con giáp. Bộ trống được dựng thành dàn, theo thứ tự ba hàng từ lớn đến nhỏ. Bốn trống lớn, đường kính khoảng 40cm đứng hàng đầu, tiếp đó là 4 trống vừa, khoảng 30cm, sau cùng là bộ trống nhỏ, cỡ 20cm, cũng bốn cái. Người cử trống đánh cả hai tay, và cùi chỏ, cùng hai dùi trống (gọi là roi), dài khoảng 30cm, đánh cả hai đầu. Đưa hai tay lên múa là có thể đánh cả bốn mặt trống hay tang trống một lúc.

Vào một bài trống, người thiện nghệ có thể gây cảnh mưa rào thác đổ, khi nhặt khi khoan, khi dồn dập bức tim, khi hào hùng phấn chấn. Xem người múa trống đã là một cái thú. Múa là từ đúng nhất vì người đánh trống vừa đánh vừa di chuyển chứ không ngồi một chỗ như nhạc công tấu nhạc. Chính vì thế, người đánh trống còn phải biết võ để múa cho đúng bài bản. Trong quá trình phát triển, qua lưu truyền đến nay có lúc bộ trống lên đến 46 chiếc.

Dưới thời Tây Sơn, ở Bình Định đã sử dụng Trống Võ Tây Sơn để ban hiệu lệnh luyện tập võ thuật, nhằm mục đích tạo phấn khích, hứng khởi, tăng dũng lực, nâng cao hiệu ứng nội công và tạo sự nhịp nhàng, linh hoạt trong việc thực hiện các đòn thế, động tác võ. Mặt khác, tiếng trống vừa thay thế tiếng hô và điều khiển của người thầy, vừa giúp võ sinh di chuyển, luyện “ngựa” (chân), tiến, lui, nhanh, chậm, cương, nhu, hoành đảo, tấn công, phòng thủ và khai triển các bộ pháp được đồng bộ, đanh sắc, uy phong, chuẩn xác. Ngày xưa, nhiều làng võ nổi tiếng ở Bình Định, đêm đêm các thầy dạy võ thường đem trống ra sân Đình, bãi cát, bờ sông, để tập luyện quyền thuật và binh khí cho trai, gái trong làng. Khi tiếng trống vang lên liên tục, càng lúc càng dồn dập, lớn dần như thúc giục, cuốn hút mọi người lao nhanh ra bãi tập. Nhiều người quên mệt mỏi (có lẽ một phần do tiếng trống thay phiên nhau đổ dồn liên hồi, đầy oai lực, hùng tráng như tiếp thêm sức mạnh cho người tập), miệt mài trau luyện. Nhờ vậy mà phong trào tập võ theo trống ngày càng lan rộng và trở thành nét văn hóa độc đáo, thân quen ở các làng quê.

Ngày xưa, môn võ thuật Bình Ðịnh chia làm 4 bộ môn: côn, quyền, kiếm, cổ (trống) chứ không phải kích.

Về môn Cổ thì võ sinh thường treo lủng lẳng ngay hàng, hàng năm, mười cái trống (loại trống chầu hát bội) để tập võ. Võ sinh sẽ đánh, đá vào cái trống ấy. Trống bị sức mạnh đánh, đá sẽ văng ra xa và nhờ dây treo thối ngược lại. Lối tập võ bằng trống này, một là để tạo những cú đánh (đấm), đá mạnh, nặng cân hơn; hai là để tập sự nhanh nhẹn chống đỡ, tránh né. Nếu ai không tinh mắt lẹ tay thì chắc chắn sẽ bị trống thối ngược lại đập cho vỡ mặt, gãy xương.

Nhạc võ Tây Sơn gắn với lò võ nổi tiếng của người Việt ở Bình Định. Tương truyền loại nhạc này do ba anh em người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đặt ra cho quân khởi nghĩa luyện võ. Với một bộ trống 17 chiếc, người tập võ sẽ dùng hai tay để đánh 12 chiếc, còn lại 5 chiếc đánh bằng đầu, 2 gót chân và 2 khuỷu tay. Người tập võ đánh được 17 trống được xem là "võ thuật như thần". Khi ra trận, Nhạc võ Tây Sơn chính là những hiệu lệnh do các vị tướng truyền đến ba quân các chiến thuật bằng phương tiện âm nhạc. Còn ngày nay, các bài bản ấy được ghép lại để thành một tác phẩm khí nhạc mang tính chất biểu diễn cho người xem thưởng lãm để nhớ với lòng biết ơn vô hạn đối với vị anh hùng áo vải đất Tây Sơn, các nghĩa sĩ trận vong và ôn lại trang sử hào hùng của dân tộc.

Bài và ảnh: Nhạc sĩ NGUYỄN VĂN HIÊN

ANVN 38 (05/2015)