17022018

Cập nhật lúc:12:04:33 PM GMT

Back Di sản Mục lục: Nghệ thuật dân gian Âm nhạc Tuồng - Bảo tồn và phát huy

Âm nhạc Tuồng - Bảo tồn và phát huy

  • PDF.

Nghệ thuật sân khấu tuồng là một loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền tiêu biểu của Việt Nam. Qua những ghi chép của tiền nhân còn lưu lại trong các bộ sử sách, văn bia, thư tịch cổ chứng tỏ rằng ở Việt Nam nghệ thuật ca, múa, nhạc xuất hiện từ rất sớm.

Đến thế kỷ X dưới triều đại phong kiến nhà Đinh, nghệ thuật ca, múa, nhạc đã phát triển một cách khá phổ biến trong dân gian. Đặc biệt trong dân gian còn có hình thức trò nhại - tức là trò bắt chước về các trò diễn xướng. Đến thế kỷ thứ XII, XIII dưới triều đại Lý - Trần, nghệ thuật ca, múa, nhạc và diễn trò đã phát triển khá cao về nội dung nghệ thuật và quy cách trình diễn.

Đại Việt sử ký còn ghi: "Con cái các nhà thế gia tập hát điệu phưong Bắc. Lý Nguyên Cát dùng tuồng truyện cổ, có tích Tây Vương Mẫu hiến bàn đào, người ra trò có  danh hiệu là Quan nhân, Chu tử, Đán nương, Sửu nô cộng 12 người đều mặc áo gấm thêu, đánh trống, thổi sáo, gảy đàn, vỗ tay, gõ phách thay đổi nhau vào ra làm trò để cảm động lòng người, muốn cho buồn được buồn, muốn cho vui được vui... Nước ta có tuồng truyện bắt đầu từ đó”.

Điều đó chứng tỏ rằng, trong nghệ thuật sân khấu tuồng cổ thì âm nhạc có một vị trí hết sức quan trọng. "Trò nào thì trống nấy" cho nên muốn bảo tồn và phát huy nghệ thuật tuồng không thể không quan tâm đến âm nhạc. Thời gian qua, bên cạnh việc đi tìm những yếu tố mới lạ, hấp dẫn đưa vào sân khấu Tuồng nhằm mục đích cách tân, thể nghiệm, thu hút khán giả đến với sân khấu truyền thống, các đơn vị nghệ thuật Tuồng trên đất nước ta còn mạnh dạn phục dựng các vở tuồng truyền thống nhằm mục đích bảo tồn và phát huy vốn quý của sân khấu dân tộc. Đó  là một việc làm  hết sức dũng cảm, tâm huyết, đáng ghi nhận của đội ngũ làm nghề trong bối cảnh khó khăn chung của các loại hình sân khấu truyền thống dân tộc như thiếu vắng khán giả, thiếu kịch bản hay, hụt hẫng về đội ngũ diễn viên – nhạc công kế cận, v..

Trong bài viết này, tôi muốn đề cập tới những góc độ sau đây của âm  nhạc sân khấu tuồng:

-         Biên chế dàn nhạc và các bài bản thường dùng trong tuồng

-         Các sáng tác âm nhạc cho tuồng và sự phát triển đồng hành

-         Phương pháp đào tạo cho âm nhạc tuồng

Nhìn lại quá khứ, chúng ta thấy dàn nhạc của sân khấu tuồng cổ chỉ có ba  nhạc cụ chủ yếu là Trống, Kèn, Nhị. Ngoài ra còn có thêm trống sấm, trống cơm, mõ, thanh la, hồ tiểu..v.v Ngày xưa dàn nhạc thường được gọi là " dàn ngoài " với vỏn vẹn ba nhạc công chơi Trống, Kèn, Nhị và sử dụng các bài bản tuồng cổ hoặc nhạc lễ, nhạc chùa để phục vụ cho diễn viên biểu diễn. Cho đến bây giờ biên chế dàn nhạc đã tăng lên trên dưới 10 người cho một dàn nhạc tuồng nói chung.Các nhạc cụ được bổ sung như đàn Bầu, Nhị 2, Sáo, Tiêu, Thập Lục, Nguyệt, Đàn Tam, Hồ Trầm (thậm chí có dàn nhạc còn đưa cả đàn guitar, orgal,) cho màu sắc dàn nhạc thêm phong phú nhưng vị trí chủ đạo vẫn do các nhạc cụ Trống,Kèn,Nhị nắm giữ. Khi chúng ta  bàn đến chuyện bảo tồn và phát triển âm nhạc tuồng thì không thể không nói đến vai trò của Trống, Kèn, Nhị vì ba nhạc cụ này mang đậm bản sắc của âm nhạc tuồng nhất.

Làn điệu của âm nhạc trong nghệ thuật sân khấu tuồng thì rất nghèo nàn, quanh đi quẩn lại cũng chỉ có khoảng hơn chục làn điệu chính như bài Chiến, Bóp, Nam, Khách, Tẩu...vv. Đôi khi phải mượn các bài Lưu Thuỷ, Đăng đàn cung của nhạc lễ hay Bát Nhã, tán Dương Chi, Tụng, Xướng của nhạc chùa để dùng. Cụ Đào Tấn khi dựng vở cũng đã thêm thắt một số làn điệu mới cho tuồng như Lý Mọi, Giá ban, Dâng Rượu và bày cách xử lý làn điệu cho diễn viên khi biểu diễn.Tuy nhiên điều đáng quý là tuy có số lượng làn điệu ít ỏi nhưng cách vận dụng thì lại vô cùng phong phú và đa dạng. Cùng một làn điệu hát Nam hay hát Khách nhưng tuỳ theo tính cách nhân vật mà người nghệ sĩ có thể sáng tạo sao cho phù hợp với tình huống biểu diễn tạo thành nhiều loại hát Nam hay nhiều loại hát Khách biến thể. Đây quả là một nét rất độc đáo của nghệ thuật tuồng mà các nghệ thuật khác không thể sánh kịp.

Cách đây gần 50 năm (vào những năm thập kỷ 60) tại Đoàn Tuồng Liên khu 5 nay là nhà hát tuồng Đào Tấn, các nhạc sĩ Lê Yên, Nguyễn Viết, Văn Bá Anh đã viết nhạc cho vở tuồng Sơn hậu  (lớp Kim Lân, Linh Tá thề nguyện) và Ngọn lửa Hồng Sơnhầu hết các lớpquan trọng. Đặc biệtlớp múa lửa kết thúc vở Ngọn lửa Hồng Sơn khi 2 cha con Lão Tạ và Kim Hùng đánh nhau âm nhạc rất hùng tráng,sôi nổi  đến ngày nay khi diễn vở tuồng này vẫn còn sử dụng.

Trong các vở tuồng đề tài lịch sử, dân gian và hiện đại thì âm nhạc đóng góp phần quan trọng cho thành công của vở diễn. Chúng ta có thể thấy rõ điều này khi xem các vở Quang Trung đại phá quân Thanh (tác giả Trúc Đường, đạo diễn Hoàng Chương, âm nhạc Nguyễn Viết), Nàng Sơkuntơla  (chuyện cổ Ấn Độ, Đạo diễn Hoàng Chương, âm nhạc Thao Giang), Trời Nam (tác giả Lê Duy Hạnh, đạo diễn Ngọc Đình, âm nhạc Duy Kiền, Gia Thiện)... Âm nhạc đã đi đúng chủ đề vở diễn, phục vụ đắc lực cho diễn xuất của diễn viên và tạo nên không khí sôi động cho sân khấu, đáp ứng được nhu cầu của khán giả đương đại nhưng vẫn âm vang đậm đặc chất tuồng.

Việc đào tạo nhạc công tuồng cũng đã trải qua một chặng đường đầy khó khăn gian khổ. Các nghệ nhân xưa thì tay nghề cao, tiếng đàn, tiếng kèn điêu luyện nhưng phương pháp truyền nghề lại lạc hậu, thủ công. Một số thầy mới có kiến thức hiện đại được đào tạo trong các trường Văn hoá nghệ thuật thì tay nghề cũng không phải xuất sắc nên học trò ít có người thành tài. Đặc biệt đội ngũ nhạc sĩ sáng tác âm nhạc cho tuồng còn thiếu và còn yếu. Người giỏi về nhạc mới thì không am tường nhạc tuồng, còn người giỏi về nhạc tuồng lại thiếu kiến thức sáng tác âm nhạc hiện đại, chất liệu nhạc cổ thấm sâu vào máu thịt nên việc bung phá, phát triển rất lúng túng khó khăn... Vì vậy công tác đào tạo nhạc công và nhạc sĩ cho sân khấu tuồng cũng là một việc làm mang tính cấp thiết, cần được chú trọng trong thời gian tới.

Bảo tồn và phát triển âm nhạc nằm trong sân khấu tuồng là một thách thức lớn với chúng ta trong thời kỳ hiện nay. Mâu thuẫn giữa việc chọn lựa truyền thống hay hiện đại thường khó dung hoà. Đó chính là sự mâu thuẫn thường có giữa Bảo tồn và Phát Triển. Truyền thống quá thì không hấp dẫn khán giả, hiện đại quá thì mất đi bản sắc. Hiện nay, đa số các đơn vị đều chọn lựa cách làm vừa xây dựng tiết mục truyền thống để gìn giữ bản sắc vừa xây dựng tiết mục để doanh thu. Tuy nhiên, Tuồng truyền thống còn quá luộm thuộm, cấu trúc rườm rà,nhiều màn nhiều lớp... Tiết tấu vở diễn còn chậm, đôi khi còn sa đà vào văn chương sáo rỗng... Ngoài ra, do trình độ nghệ thuật chưa cao, tầm nhìn hạn hẹp, cục bộ địa phương ở một số người khi được mời làm đạo diễn, âm nhạc, biên đạo múa,cố vấn cho việc phục dựng tuồng cổ đã đưa quan điểm nghệ thuật riêng của mình vào vở diễn,dẫn đến việc các đường nét, trình thức biểu diễn cổ điển mất dần.Từ đó bộc lộ những hạn chế, bất cập khi vở diễn được công diễn như sai lệch về đường nét biểu diễn truyền thống, diễn viên không hiểu hết hoặc hiểu sai ý nghĩa của ngôn từ Hán Việt trong kịch bản nên thường diễn sai về ý, lời thoại chưa ăn nhập với điệu bộ; phục trang, cảnh trí không đồng nhất về phong cách và bối cảnh xã hội.

Từ góc độ âm nhạc truyền thống nhìn về quá khứ và tương lai của nghệ thuật tuồng, qua những vấn đề đã nêu trên, hy vọng rằng  chúng ta sẽ đồng tâm nhất trí với nhau  : Bảo tồn và phát triển nghệ thuật tuồng không thể tách rời từng bộ phận mà phải làm đồng bộ, toàn diện các khâu trọng yếu như kịch bản, dàn dựng, xử lý âm nhạc, thiết kế mỹ thuật, biên đạo múa, nghệ thuật biểu diễn.  Có như vậy chúng ta mới có khả năng làm tốt việc gìn giữ, phát huy và tuyên truyền giới thiệu nghệ thuật tuồng quý báu của dân tộc Việt Nam đến với tất cả công chúng yêu thích nghệ thuật trên thế giới.

Nguyễn Gia Thiện (Phó Giám Đốc Nhà hát tuồng Đào Tấn)

(hoinhacsi.org)


Bài liên quan:
Bài mới hơn:
Bài cũ hơn: