23022018

Cập nhật lúc:12:04:33 PM GMT

Back Di sản Dân ca - dân vũ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DÂN CA VÍ GIẶM NGHỆ TĨNH

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DÂN CA VÍ GIẶM NGHỆ TĨNH

  • PDF.

Dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO vinh danh là Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đó là niềm vui lớn, là niềm tự hào khích lệ đối với nhân dân Nghệ Tĩnh và nhân dân cả nước. Bên cạnh niềm vui niềm tự hào ấy là nỗi lo làm sao tìm phương cách hữu hiệu để bảo tồn những giá trị nguyên bản của di sản ấy trong đời sống đương đại mà không bị mai một hoặc biến dạng trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa, đồng thời phải làm sao cho ví giặm càng ngày càng thăng hoa lan tỏa trong không  gian rộng lớn hơn.

Như vậy, qua sự kiện này, chúng ta cần nhận thức đầy đủ và sâu sắc rằng cơ hội và thách thức là hai mặt của một vấn đề. Tuy nhiên lâu nay Nghệ Tĩnh cũng đã và đang rất chú tâm trong việc bảo tồn và phát huy di sản dân ca ví giặm, cụ thể là :

I.Về bảo tồn.

Xưa kia, sự trao truyền dân ca chủ yếu bằng phương thức truyền miệng, lớp già truyền cho lớp trẻ, người biết nhiều truyền cho người biết ít. Vả lại Ví giặm là thể hát bình dân mộc mạc nên ai cũng có thể hát, và cũng có thể ứng tác ngẫu hứng. Tuy vậy, hàng chục năm qua, nhiều nhà hoạt động văn hóa dân gian xứ Nghệ đã cất công điền giã sưu tập hầu hết các bài bản làn điệu dân ca rồi văn bản hóa hầu hết những tư liệu ấy (cả nhạc & lời ca từ), đồng thời đã phổ biến truyền dạy dân ca trong các trường học, trên đài PTTH, trong các  lớp tập huấn cho văn nghệ quần chúng & cho ngành giáo dục; đã hình thành nhiều câu lạc bộ dân ca, mở các cuộc liên hoan  dân ca hàng năm, mở các khóa đào tạo diễn viên dân ca tại Trường Cao đẳng VHNT; đã thâu in & phát hành rộng rãi các băng đĩa dân ca như: Hát giao duyên, hát ví đồng ruộng, ví đò đưa, ví phường nón, ví trèo non; hát giặm kể, giặm ru, giặm xẩm, giặm cửa quyền, đặc biệt là ví phường vải, một hình thức diễn xướng có bài bản lề lối rất đặc sắc. Ngày xưa các trai thanh gái lịch đi hát phường vải không hẳn là để khoe giọng   các “ca sĩ”, cái chính là để thử tài đối đáp, thi thố tài năng ứng tác văn chương chứ nghĩa, kiến thức điển tích giữa đôi bên trong cuộc hát. Qua đó mà thổ lộ tâm tình, kén chọn trai tài gái đảm, kết bạn trao duyên, bởi thế mà nó có sức lôi cuốn đến kỳ lạ, chỉ vài làn hát đơn điệu thôi mà họ đối đáp với nhau thâu đêm suốt sáng vẫn không nhàm chán.

Dân ca ví giặm thực ra là một hình thái văn hóa đúng hơn là một hình thái nghệ thuật, bởi người ta hát rất ngẫu hứng trong không gian tự nhiên, không cần sân khấu, không cần nhạc đệm, không cần người xem. Vậy nên phương cách bảo tồn dân ca ví giặm chân xác nhất vẫn là duy trì các hình thức diễn xướng dân gian trong môi trường dân dã.

Thế nhưng hiện nay hạ tầng kinh tế - văn hóa - xã hội đã có nhiều biến đổi, không còn như xưa nữa, thực hành trong không gian như xưa cũ hết sức khó khăn, vậy ta nên phục dựng lại các hình thức diễn xướng dân gian trên sông nước, trên đồng ruộng, trên núi non, trong thôn xóm và trong nhà tương tự như cổ xưa, rồi thu âm thu hình để vừa lưu giữ bảo tồn vừa quảng bá rộng rãi, đó cũng là cách khả dị thích ứng với tình thế. Mặt khác cần duy trì và phát triển các câu lạc bộ hát dân ca trong cộng đồng bằng nhiều hình thức phong phú đa dạng, mang tính nghệ thuật cho hấp dẫn lớp trẻ.

II. Về phát huy & phát triển.

Song song với việc duy trì các hình thức diễn xường dân gian như xưa cổ, chúng ta còn khai thác ứng dụng những cách thức kế thừa và phát triển sau đây :

1. Phát huy bằng hình thức “Bình cũ rượu mới”, Nghĩa là từ làn điệu gốc rồi soạn lời mới bằng hình thức đơn ca, đối ca, tốp ca, hoạt ca, hoạt cảnh có nội dung hiện thực, thành các tiết mục cho các câu lạc bộ trình diễn. Chẳng hạn như: Trước lúc lên đường, Thần sấm ngã, Dâng Người câu ví làng Sen, Hành hương về quê Bác, Đẹp lắm quê mình, Xứ Nghệ quê tôi, Anh Bần hát ghẹo... Phương cách này rất thịnh hành trong nhiều năm qua, cần khuyến khích.

2. Phát triển thành ca khúc mới. Nghĩa là lấy chất liệu ví giặm rồi phát triển thành những ca khúc mang hơi thở và nhịp sống đương đại. Ta có thể kể ra hàng loạt ca khúc nổi tiếng được đông đảo công chúng ưa thích như: Xa khơi, Chào em cô gái Lam Hồng, Cô dân quân làng đỏ, Câu hò trên đất Nghệ An, Tiếng hát sông Lam, Trông cây lại nhớ đến Người, Từ làng Sen, Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác, Người về thăm quê, Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh, Lời Bác dặn trước lúc đi xa, Khúctâm tình người Hà Tĩnh, Người đi xây hồ Kẻ Gỗ, Neo đậu bến quê, Xôn xao trời nước  quê mình, Xứ Nghệ quê tôi, Khúc hát sông quê, Ân tình xứ Nghệ...Nhiều ca khúc kể trên đã trở thành Những bài ca đi cùng năm tháng - Giai điệu tự hào

3. Phát triển bằng hình thức Sân khấu hóa (Kiểu như ca kịch cải lương, ca kịch Huế, ca kịch Khu 5) Đây là sự chuyển hóa phức hợp từ diễn xướng dân gian đến trình diễn kịch hát dân tộc. Quá trình này bắt đầu tự phát trong phong trào văn nghệ quần chúng với vở Chiếc cày ông Tư của Phan Lương Hảo (1961), sau đó phát triển mạnh vào thập niên sáu mươi (TKXX) với các vở như: Con mương thủy lợi, Nàng dâu mới của Thế Phiệt, Cà phê phẫn nộ của Văn Huệ, Quyết không trở về, Bảo vệ nông, Đi hay ở, Không phải tôi của Nguyễn Trung Giáp, Khi ban đội đi vắng của NguyễnTrung Phong...Từ đấy đoàn văn công chuyên nghiệp của tỉnh mới tiếp tục thể nghiệm sân khấu hóa dân ca ví giặm với hàng chục vở, đủ các thể loại bi hài hùng như:  Cô gái sông Lam, Đầu bến sông, Hoa đất, Trắng hoa mai, Đốm lửa núi  Hồng, Vụ án kỳ lạ, Mai ThúcLoan, Bão táp cửa Kỳ Hoa, Ông vua hóa hổ, Linh hồn của đá, Lời thề thứ 9, Hai ngàn ngày oan trái, Quyền được hạnh phúc...

Quá trình sân khấu hóa dân ca ví giặm cũng chính là quá trình xử lý nhiều vấn đề học thuật mang tính phức hợp như: Cấu trúc tự sự cho kịch chủng này như thế nào? phương pháp ước lệ - cách điệu - tượng trưng ra làm sao? Rồi vấn đề ứng dụng làn điệu cũ và sáng tạo làn điệu mới, vấn đề trình thức vũ đạo, vấn đề phương ngữ - ngữ âm ngữ điệu, rồi mỹ thuật sân khấu cho loại hình kịch chủng này...Đây là những vấn đề hết sức mới mẻ, song rõ ràng đây là một sự vật mới - góc độ triết hoc; một hiện tượng mới - góc độ văn hóa xã hội học ; một loại hình mới - góc độ nghệ thuật học đã ra đời và đang hình thành cốt cách riêng của nó. Điều đáng mừng là hàng chục vở diễn thể nghiệm được đông đảo công chúng Nghệ Tĩnh cũng như công chúng cả nước háo hức đón nhận và nhiệt tình cổ vũ..Nhiều vở được tặng giải cao tại các Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp. Nhiều nghệ sĩ được tặng Huy chương Vàng - Bạc, nhiều diễn viên được Chủ tịch nước phong tặng NSND, NSƯT như: Hồng Lựu, Song Thao, Xuân Năm, Đức Duy, Danh Cách, Đình Bảo, Hồng Năm, Tiến Dũng, Lệ Thanh, Minh Ngọc, An Phúc, Ngọc Hà, Hồng Dương, Đình Toàn, Minh Tuệ, Quế Chung, Mai Kiên, Ngọc Ất...

Dân ca ví giặm thuần thúy chỉ tồn tại trong môi trường diễn xướng dân gian dân dã, âm điệu thường mang sắc thái trữ tình. Nhưng khi đưa dân ca lên sân khấu kịch hát tức là đã sân khấu hóa dân ca, buộc dân ca phải chuyển tải một nội dung lớn hơn, sâu sắc hơn, đa dạng tính cách hơn, nhiều sắc thái tình cảm hơn, nhiều tâm trạng bạo liệt hơn. Khi ấy người hát không còn mang cái “tôi” của chính mình như trong diễn xướng dân gian nữa, mà là mang “cái tôi” của nhân vật kịch. Vả lại nghệ thuật kịch hát dân tộc là nghệ thuật tổng hợp, các thành tố tạo nên kịch chủng có mối quan hệ biện chứng. Để biểu đạt các hình tượng sân khấu một cách hài hòa nhất quán phong cách, người nghệ sĩ còn phải biết ứng dụng thành thục các yếu tố mang tính nguyên hợp (lời thoại - hát - vũ đạo - diễn xuất) đồng thời trong một vai diễn lớp diễn. Tuy nhiên trong quá trình sân khấu hóa, nếu chỉ giới hạn trong mấy làn điệu cổ thì không thể đáp ứng được tính đa dạng của sân khấu, do vậy các nhạc sĩ - nghệ sĩ đã phải sáng tạo thêm những bài bản mới theo các tiêu chí sau :

+ Chất liệu phải đậm đà âm hưởng dân ca ví giặm

+ Cấu trúc theo khúc thức dân gian NghệTĩnh

+ Biểu đạt được tâm trạng hoặc tính cách nhân vật

+ Ca từ phải theo các thể thơ dân tộc

Nhìn chung mấy mươi năm qua, những bài bản mới sáng tạo theo các tiêu chí trên rất có hiệu quả sân khấu. Xin nêu một số bài bản tiêu biểu sau đây :

- Biểu đạt tâm trạng nhân vật có các bài: Giận mà thương, Hát khuyên, Đại thạch, Tứ hoa, Xẩm thương, Khóc cha, Một nắng hai sương, Nghe lúa reo, Em giữ lời nguyền, Chim ơi, Cay đắng tủi sầu, Cuộc đời nổi trôi, Chỉ còn phút dây, Tình sâu nghĩa nặng...

- Khắc họa tính cách có các bài: Con cóc, Xoay xở, Lập lờ, Lập lòe, Trời khuya trăng xế, Lý xạo, Đi rao, Khen thầy tài, To gan, Ngang ngược, Uất ức, Quan khoe võ, Chồng chềnh, Sinh sự sự sinh...

- Hát tạo không khí có các bài: Nổi trống lên, Gốc lúa quầng trăng, Dậy mà đi, Hò vượt sông, Đứng thẳng người lên, Hò bơi thuyền...

Có thể nói sự nghiệp bảo tồn và phát huy dân ca Nghệ Tĩnh bước đầu đã có nhiều thành tựu đáng ghi nhận và khích lệ, cần tiếp tục phương cách này, làm cho ví giặm trường tồn và phát huy phát triển không ngừng, có sức lan tỏa rộng rãi hơn nữa.

Thanh Lưu ANVN 39 (6/2015)