17022018

Cập nhật lúc:12:04:33 PM GMT

Back Di sản Dân ca - dân vũ Lân vũ khai hội – Xuân phú quý về

Lân vũ khai hội – Xuân phú quý về

  • PDF.

Mỗi dịp xuân về, náo nức trong không khí của các ngày hội và Tết cổ truyền dân tộc, ở các làng quê lại thấy những màn múa lân sôi động với màu sắc rực rỡ, nhịp điệu vui nhộn và động tác hùng dũng, đem tới cho người xem tiếng cười ròn rã và niềm vui về một năm mới thái bình, an lạc.

Múa lân vốn xuất phát từ một truyền thuyết ngày xuân của dân cư vùng biển duyên hải. Chuyện rằng, xưa lắm có một thủy quái rất hung dữ, cứ đầu năm (sau này đọc chệch thành tên lân) lại lên bờ bắt gà, lợn và người ăn thịt. Đức Phật Di Lặc thương dân khổ cực liền hạ phàm, hóa thân thành một lão nông phốp pháp, miệng tươi cười- dân gian gọi là Ông Địa –  thu phục con lân. Ngài nhử nó ăn một túm cỏ tiên, ăn xong nó bỗng hiền lành, chỉ thích rau quả, chạy nhảy đùa nghịch, chứ không còn muốn sát hại sinh linh và cùng Ngài đi độ thế xua tà- đuổi quỷ, mang lại hạnh phúc, no ấm cho trần gian. Câu chuyện đã được nhân dân ở mỗi nơi dựng thành các trò diễn khác nhau, trong đó cho hai người đóng con lân nhảy múa và một người làm Ông Sư/ Ông Địa điều khiển lân với niềm tin sự xuất hiện của lân đồng nghĩa với sự may mắn, kỳ tích, niềm vui và tài lộc trong năm mới.

Điệu vũ thường mở đầu cho các lễ hội và diễn theo các trích đoạn như thần thú xuất động (lân từ dưới biển hoặc từ thạch động bước ra), bát bộ liên hoa (Đức Phật hạ phàm cùng với sư tử thu phục lân tinh), lân ăn nhánh linh chi, lân tranh châu, lân qua cầu, lân hồi sơn... Ngoài ra là các tự chuyện của từng con vật như Lân mẫu xuất lân nhi, Độc chiếm Ngao đầu, Song Hỉ Lâm môn, Tam Tinh giáng phàm, Tam Anh uy vũ, Tứ Quý Hưng Long, Trúc  thanh, Điệp La Hán...  Và các màn diễn phối hợp với long, quy, phụng gọi là múa tứ linh hay thái bình.

Trong múa lân, cần đạo cụ là lốt lân. Tùy từng nơi, điều kiện vật chất mà người dân chế tạo lốt lân đơn giản hay cầu kỳ, nhưng đều phản ánh hình tượng một sinh vật thần thoại hết sức uy nghi có đầu sư tử, sừng hươu, mình nai, da cá sấu hoặc vảy cá chép, chân ngựa, đuôi trâu... Mỗi chi tiết của con thú cũng giàu tính biểu tượng mang đến cho người xem sự tốt lành như mũi hếch biểu thị tài lộc, sự may mắn và thuận thiên. Trán dô giống mai rùa thể hiện sự trường thọ và trí khôn. Trước trán gắn một cái gương có tác dụng chiếu yêu và đi xuyên trời đất. Đuôi đeo những quả lục lạc tượng trưng cho những âm thanh tưng bừng của cuộc sống. Có tới  năm loại lân với năm màu khác nhau ứng với ngũ hành và năm phương vị gồm lân trắng (mệnh kim biểu tượng của vàng, bạc, sắt, đồng và phương tây), xanh (mộc - cây cỏ, hoa lá và phương đông), đen (thủy - nước và phương bắc), đỏ (hỏa - lửa và phương nam) và vàng (thổ - đất và trung tâm). Về tính khí cũng có ba loại lân gồm lân vàng thể hiện sự năng động, lân đỏ sự can đảm và lân xanh sự hòa hảo. Và theo sự ngả màu lông có ba loại lân là lân già vớirâu và lông ngả màu bạc trắng, lân trung tuổi lông màu xám hoe vàng và lân con màu xanh đen. Lân già thường điềm tĩnh, lân con thì nóng nảy, thích gây chiến. Một đàn lân thường có  từ một đến chín con, trong đó có lân ông/ bố mẹ và con cháu. Nói chung, lân không có tên, nhưng để dễ nhớ, nhất là khi xem tích cổ, dân gian nhiều khi cũng đặt tên cho chúng đúng với màu sắc và tính cách.

Để làm một lốt lân không khó. Đơn giản nhất là làm một đầu lân bằng khung tre dán giấy, phía sau gáy đính một tấm vải đỏ có độ dài tương đối. Cầu kỳ hơn làm đầu bằng vải sau đó điểm tô các chi tiết mắt, mũi, miệng, sừng, vảy... bằng nhữngvật trang sức và sau gáy khâu trên tấm vải nhiều lớp xếp nếp, giả lập vảy cá khi dịch chuyển bồng bềnh đẹp mắt, thậm chí may nó thành đồng phục biểu diễn.

Tùy theo hoạt động của lân mà có hai loại múa: múa văn và múa võ. Trong múa văn, con vật chỉ cần lắc bờm, uốn mình theo nhạc một cách dí   dỏm, đôi khi lăn lộn bằng  các cử chỉ nhẹ nhàng, uyển chuyển. Trong múa võ, ngoài động tác thông thường, con vật còn phải thực hiện những bài võ điêu luyện như nhào lộn qua lửa, nhảy qua bàn ghế, đi trên quả cầu hay những cọc tre thật linh hoạt và chính xác. Cũng có hai loại vũ tự do và vũ bài bản. Vũ tự do là điệu múa ngẫu tác, vừa đi vừa diễn cho khách đứng xem khi diễu hành trên phố hoặc tới thăm nhà dân có ý nghĩa chúc phúc, ban phát của cải, may mắn cho gia chủ. Vũ bài bản là múa có biên đạo kỹ lưỡng, biểu diễn tập trung tại sân khấu cho khách ngồi xem với thời gian dài, màn múa cầu kỳ, thường kể lại tích lân với đầy đủ các cảnh như con lân ngủ, lân mơ, lân tỉnh giấc, lân liếm lông, lân xuất động, lân  chơi đùa, lân tìm thức ăn rồi trở lại ngủ. Trong điệu múa, thường xuyên có sự góp mặt của Ông Địa với vai trò hề cười, người kể chuyện và giao lưu với khán giả. Ngài đeo mặt nạ đỏ, cầm quạt hoặc quả cầu đến đánh thức lân. Con vật tùy tâm trạng mà nằm ỳ nũng nịu, hoặc ượt đuổi và chơi với Ông Địa. Cao trào của điệu múa là Ông Địa cho nó ăn một túm cỏ hoặc quả - trần. Con lân tiến tới ngửi rồi đứng ăn. Sau một tiếng trống ròn rã, nó khạc mớ cỏ về phía người xem như một hành động chúc mừng năm mới vui vẻ, thái hòa. Tùy theo từng bài múa mà có một hay nhiều con lân. Ở bài múa Độc chiếm Ngao đầu, chỉ có một con biểu diễn, bằng các tài leo trèo, bay nhảy, ngụp lặn chứng tỏ ngôi vị bá vương, chiếm lãnh mọi lãnh thổ. Ở bài múa Song Sư có hai con, một đực một cái âu yếm, quấn quýt tượng trưng cho một tổ ấm gia đình hạnh phúc. Ở bài múa Tam Tinh thì có ba con đóng vai ba vị thần Phúc, Lộc, Thọ chúc phúc dân gian. Ở bài múa Tam Anh, cũng có ba con nhưng đóng ba huynh đệ kết nghĩa Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi vì nước thương dân và yêu mến nhau hơn cả ruột thịt. Ở bài múa Tứ Quý Hưng Long có bốn con lân vui đùa bốn phương tượng trưng cho bốn mùa no ấm.

Trong điệu múa lân, căn bản cần hai người: Người đứng phía trước đội và giữ đầu lân bằng hai tay, điều khiển cho nó lúc lắc, khi ngóc lên khi xụp xuống, cùng với mắt có thể nhấp nháy và tai vểnh cụp. Ở những con lân đặc biệt, trong đầu thường có một mạng lưới đòn bẩy, dây kéo và nghệ sĩ sẽ dùng hệ thống này mà điều khiển con vật mở mắt- liếc nhìn, há ngậm miệng, vẫy tai, rung bờm... Với việc vừa lúc lắc vừa bộc lộ đa dạng cảm xúc của con vật như tò mò, háo hức, tức giận, vui vẻ... đem tới cho lốt lân sự sống động như thật. Người phía sau hoặc giấu mình dưới mảnh vải ôm lấy lưng người trước hoặc đứng riêng đằng sau cầm đầu mảnh vải đung đưa làm thân con vật chuyển động ăn ý với đầu và giúp đỡ người phía trước thực hiện các cú nhào lộn hay phi thân điệu nghệ.

Nhạc vũ cũng phải hết sức sôi nổi, pha diễn cùng lúc tất cả các nhạc cụ với cường độ mạnh từ xa có thể gây chú ý. Nhưng quan trọng nhất vẫn là tiếng trống, ngoài tác dụng thúc  dục còn có thể phân cảnh, dẫn dắt người diễn thực hiện đúng từng tiểu tiết của điệu múa. Lúc nào thì đi, lúc nào đứng, lúc nào nằm. Nhịp trống nào ứng với phần diễn nào và tâm trạng con vật lúc vui buồn. Thường khi lân đang đi thì tiếng trống đều đều; khi bắt đầu lăn lóc, nhào lộn hay thực hiện động tác khó thì trống dồn dập; khi ngủ trống thưa; khi dậy trống rộn ràng... Lúc mới gióng cần mạnh nhưng đến quãng giữa thì có thể lúc thưa lúc nhặt, khoai thai theo từng điệu bộ con lân.

Với niềm tin ma quỷ luôn đi thẳng, khô cứng còn thần linh thì bay lượn mềm dẻo, người múa lân bao giờ cũng đi rích rắc và khi đến nhà dân sẽ nhảy qua cửa vào trong, chứ không đi thủng thẳng để sự đa dạng, tiến triển không ngừng của cuộc sống cùng sự linh hoạt, mềm dẻo đến được với người dân.

Có thể nói múa lân là một điệu múa về những nguồn năng lượng sống vô biên còn tiềm tàng đang chờ cơ hội phục vụ lợi ích con người. Và để như vậy, mỗi năm dân gian cần có nghi lễ đánh thức và chế ngự nó. Trong khí xuân mát lành và tiếng nhạc rộn rã xua tan bao mệt mỏi, trước sự uy vũ phi thường của lân và nụ cười hoan hỷ, phúc hậu của Ông Địa ai nấy đều tin rằng năm mới mọi sự sẽ thuận lợi.

Múa lân có tính chất biến ác ra hiền, biến dữ thành lành và là chiến thắng của dân quê trước mọi thiên tai, địch họa và thử thách. Hơn cả đây là sự giao hòa giữa trời đất, quỷ thần và con người mang lại sức sống mãnh liệt, sự đoàn kết, thương yêu giữa muôn nhà trong một mùa xuân mới. Không chỉ nhằm khai hội, làm rạo rực lòng người, tưng bừng bầu không khí ngày Tết, múa lân là một món ăn tinh thần, một nét đẹp văn hóa biểu trưng cho những gì đẹp nhất của trí tuệ, dũng khí và tình yêu hòa bình của dân tộc mỗi độ Tết đến, xuân về.

Bài và ảnh: Chu Mạnh Cường

ANVN28 – Số Xuân (01/2013)


Bài mới hơn:
Bài cũ hơn: