20042014

Cập nhật lúc:04:03:39 AM GMT

Back Di sản Dân ca - dân vũ Tổ khúc Múa đèn Đông Anh - Những nét đặc trưng âm nhạc dân gian xứ Thanh

Tổ khúc Múa đèn Đông Anh - Những nét đặc trưng âm nhạc dân gian xứ Thanh

  • PDF.

Thanh Hóa là một vùng đất địa linh nhân kiệt, từ bao đời nay mảnh đất này luôn được coi là nơi hội tụ của nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trong cả nước qua các triều đại phong kiến quân chủ.

Một vùng đất có nền âm nhạc dân gian vô cùng phong phú và đa dạng với nhiều thể loại khác nhau như: Các trò diễn dân gian, hò Sông Mã, hát múa đèn Đông Anh, hát Ghẹo, chèo Chải, hát cửa đình, hát khúc Tĩnh gia... Nhiều thể loại âm nhạc dân gian đã trở thành nét đặc trưng và nổi tiếng ở cả trong và ngoài nước như Hò Sông Mã hay Múa đèn Đông Anh.

Tổ khúc Múa đèn Đông Anh là do những con người nông dân chân lấm tay bùn sáng tạo ra nhằm phục vụ cho nhu cầu sản xuất qua các thời vụ và thông qua đó để nói lên tình yêu đôi lứa.

Đây là một thể loại âm nhạc dân gian đặc sắc mang tính diễn xướng tập thể dưới hình thức liên khúc, diễn tả một chu kỳ lao động của người nông dân trong một năm canh tác. Đó là một chu kỳ lao động vất vả, gian nan, đổ giọt mồ hôi nước mắt để đổi lấy hạt lúa nuôi sống con người. Theo các cụ cao niên kể lại thì Múa đèn trước tiên xuất hiện ở làng Viên Khê, xã Đông Anh, Huyện Đông Sơn, Thanh Hóa và sau này người ta cứ quen gọi là Múa đèn Đông Anh. Đây là một tổ khúc gồm 10 bài hát, bắt đầu là Thắp đèn, đến Luống bông luống đậu, Vãi mạ, Đan Lừ, Nhổ mạ, Đi cấy, Kéo sợi, Dệt cửi, Se chỉ vá may và cuối cùng là Đi gặt.

Một hình thức diễn xướng dân gian độc đáo mang tính tập thể thường từ 10 đến 12 người tham gia và chỉ được trình diễn vào ban đêm trong kỳ lễ tế cầu phúc của dân làng, mong sao mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Khi trình diễn, mười người trong tốp múa hát phải đội trên đầu một đĩa đèn và người ta thường gọi lối diễn xướng này là “hát sản xuất” bởi vì nội dung ca từ trong Múa đèn Đông Anh thường mô phỏng lại những cảnh sinh hoạt lao động hàng ngày của người nông dân, mỗi bước đi, mỗi động tác múa đều thể hiện chu kỳ lao động cùng với lời ca và động tác tương ứng để minh họa cho công việc sản xuất.

Mặc dù đã được trình diễn dưới hình thức Hát – Múa nhưng ở tổ khúc Múa đèn Đông Anh vẫn thấy những nét hoàn chỉnh của thể loại ca khúc từ những giai điệu trong sáng, lành mạnh tới những giai điệu vui vẻ, khỏe khoắn, hay những giai điệu trữ tình, tha thiết.

Một đặc điểm nối bật nữa của tổ khúc Múa đèn Đông Anh rất dễ nhận thấy đó là sự phát triển của làn điệu trong các bài hát thường luân chuyển và xoay quanh hai trục âm chính, đó là trục âm quãng bốn (có 6 bài) và trục âm quãng năm (có 4 bài). Đây là những trục âm rất điển hình trong các thể loại dân ca Việt Nam nói chung và dân ca người Việt nói riêng. Ngoài ra, chúng ta còn thấy trong 10 bài dân ca này thường được sắp xếp theo các cặp đôi có nét âm điệu trục âm và thang âm gần giống nhau mặc dù phần ca từ có sự khác nhau về nội dung cũng như cấu trúc của từ đệm như các cặp bài Thắp đèn – Trồng bông luống đậu, Vãi mạ - Đan lừ, Dệt cửi – Se chỉ vá may, Nhổ mạ - Đi gặt. Riêng bài Đi cấyKéo sợi có cấu trúc làn điệu, nhóm âm điệu và âm kết khác hẳn so với các bài khác.

Qua 10 bài dân ca trong tổ khúc Múa đèn, đã cho chúng ta thấy có nhiều điều thú vị, thể hiện nét đặc trưng của dân ca xứ Thanh. Mặc dù tổ khúc Múa đèn là một thể loại diễn xướng dân gian đã được khôi phục và bảo tồn ở Thanh Hóa nhưng nguy cơ bị thất truyền vẫn rất cao bởi thế hệ trẻ ngày nay ít có sự quan tâm và yêu thích loại hình diễn xướng này. Hơn nữa, trong xu thế phát triển kinh tế thị trường, vấn đề bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể là một nhiệm vụ cấp bách mang tính định hướng lâu dài không chỉ đối với tổ khúc Múa đèn mà còn với tất cả những thể loại âm nhạc dân gian khác nữa.

Công tác nghiên cứu sưu tầm và bảo tồn các làn điệu dân ca, các hình thức sinh hoạt dân gian không những là nhiệm vụ mà còn là trách nhiệm của chúng ta, những người làm công tác âm nhạc trên mọi lĩnh vực trước những giá trị văn hóa vô cùng to lớn và quý giá mà cha ông ta đã để lại.

Lê Anh Tuấn ANVN22 (11/2011)