Người đánh trống phải là người trưởng phái, hoặc phụ tá thứ nhất của trưởng phái. Trống đánh phải có bài bản, phù hợp với các bộ pháp của lân,sư hay rồng như chào, lạy, nằm, leo lên, tuột xuống, lúc khoan lúc nhặt, lúc dồn dập liên hồi như trống trận, nhờ đó mới có thể diễn tả được hết hùng khí của lân, sự oai phong của sư và rồng.
Trống dùng để múa Lân cũng thuộc loại đặc biệt được gọi là Cổ Bề, làm bằng một thứ gỗ tốt khép kín, hai đầu bịt da trâu hay da bò, chính giữa mặt trống có vẽ biểu tượng Âm-Dương, tượng trưng cho trời đất. Khi đánh vào mặt trống, tiếng dội thùng thùng sẻ hòa nhịp cùng với điệu chan chát của bộ Chập chõa làm bằng đồng tạo nên một thanh sắc sung mãn rất hùng tráng, không thua gì những điệu kèn trống thúc quân lúc xung trận, như muốn chuyên chở ý nghĩa thâm sâu muôn đời của con người, là mong mỏi đón nhận được sự thái bình, thịnh trị của non nước và niềm hạnh phúc ấm no của muôn dân.
Lân theo lò võ
Ở miền Nam vào năm 1927 tại khu vực Lò Da Phú Thọ có võ sư Huỳnh Thịnh cùng với các môn sinh trong võ đường Thiếu Lâm Hồng Quyền, đã thành lập một đội Lân. Năm 1937 có võ sư Lưu Hào Lương, thuộc môn phái Thiếu Lâm Châu Gia, vì trốn lánh sự khủng bố của quân phiệt Nhật, nên bỏ trốn khỏi đất Trung Quốc, lưu lạc tới Sài Gòn lập Võ quán Nhơn Nghĩa Đường tại Chợ Lớn.
Năm 1967, võ sư Triệu Di Văn thành lập đội Lân Tinh Anh, qui tụ nhiều môn sinh xuất thân từ các võ đường Thiếu Lâm, Bạch Mi, Thái Lý Phiệt… nên trong lúc biểu diễn đã phô trương rất nhiều tài nghệ điêu luyện của võ thuật, nhiều lúc làm kinh hồn bạt vía khán giả tại chỗ, qua các tiết mục đặc biệt như Lân leo cột cờ cao tới 14,5 m, với sự tham dự của bốn con Lân, cùng tranh giành một giải thưởng. Đội Lân này tới nay vẫn còn tồn tại nhưng có tới Ngũ Lân, mang màu sắc khác nhau trong lúc cùng tranh tài. Năm 1971, võ sư Trần Minh thuộc môn phái Thái Cực Đường Lang, thành lập đội Lân, chuyên biểu diễn các môn võ thuật về miêu quyền, hổ quyền… Ngoài ra còn có màn giao đấu đặc biệt giữa Lân và Sư Tử. Nhưng hiện nay nổi tiếng nhất vẫn là Đội Lân Nhơn Nghĩa Đường, do cố võ sư kiêm đông y sĩ Lưu Hào Lương thành lập từ năm 1937. Đội Lân này do võ sư Lưu Kiếm Xương làm trưởng đoàn.
Nghề múa Lân cũng đã cải tiến từ đầu thập niên 90, chẳng những về cách biểu diễn điệu bộ, võ thuật mà còn thay đổi cả các điệu trống múa Lân, nhất là ở VN, biết khôn khéo kết hợp nghệ thuật theo truyền thống Trung Hoa và điệu trống Jazz của Âu Mỹ, lẫn ngón trống chầu cổ của ta, khiến cho âm thanh thêm sôi động, dồn dập, có tác dụng kích động lòng người và gây náo nhiệt cả một góc trời.

Huyết sử qua nghiệp múa Lân
Lúc đầu múa Lân chỉ đơn sơ qua biểu diễn của từng con một. Về sau nghệ thuật múa Lân cũng theo thời gian biến đổi không ngừng với các cuộc tranh tài cùng lúc của nhiều con Lân, có lúc thêm Kim Sư và Rồng tham dự. Nghệ thuật cao nhất trong nghề múa Lân là xung pháo, trèo cao để giựt giải thưởng, nhiều lúc treo tòn ten giữa không trung trên 5-7 thước là thường. Cũng may ít khi xảy ra các tai nạn nghề nghiệp đáng tiếc, vì hầu hết những thành viên đều là môn đồ của các lò võ thuật.
Các đội Lân dù chuyên nghiệp hay không, đều phải tuân qui tắc “gà tranh nhau tiếng gáy, lân phân biệt màu râu” để định ngôi thứ. Như vậy không phải ai muốn làm gì thì làm, nghĩa là cứ tự ý vẽ màu râu theo ý mình để chuốc lấy tai họa và những điều phiền phức nghề nghiệp.
Theo luật bất thành văn, thì Lân Râu Bạc hay Trắng, được xem như là Chúa của các loài Lân trên đời, bao gồm những đội Lân của các đại ca trong nghề. Lân có màu râu hoe hoe, đại diện cho các đội hạng nhì của các tay giang hồ bạt mạng, lúc nào cũng đang ngấp ngáo chờ cơ hội xưng bá. Lân có màu râu xanh hay đen là lớp đàn em. Bởi vậy trong nghiệp múa Lân, họ không bao giờ dám dẫm chân lên địa bàn của nhau để tránh sự xung đột. Vào những ngày Tết Nguyên Đán, có rất nhiều đội Lân hoạt động để kiếm ăn, nếu biết nhường nhịn tuân thủ theo “luật lệ giang hồ” thì mọi sự tốt đẹp, còn không thì các cuộc huyết đấu sẽ xảy ra ngay trong lúc trổ tài.
Vào những ngày Tết Nguyên Đán năm Quý Mùi (1943), đã xảy ra thảm kịch giữa hai đội lân, nguyên do cũng vì háo thắng mà phá bỏ luật lệ của giới giang hồ. Tết năm đó tại khu vực Lò Heo Chánh Hưng và Lò Dừa, có đội Lân Râu Hoe (vàng) của võ sư Tám Mạnh, một nhân vật giang hồ rất có thế lực trong vùng, nhờ tiền bạc rủng rỉnh. Đối diện bên kia sông Sài Gòn, có đội Lân Chúa Râu Bạc, do tay anh chị trong làng đấm đá tên Hai Lài cầm đầu. Tết Quý Mùi 1943, có Năm Hồi là con của Tám Mạnh, vì muốn chơi cho thiên hạ nổ mắt, nên tự ý đổi màu râu của đội Lân nhà, từ màu vàng hoe thành màu bạc (Lân Chúa), nên đã bị đội Lân của Hai Lài thẳng tay trừng trị theo luật giang hồ. Kết quả của trận song Lân huyết đấu, có khoảng 30 người thiệt mạng và mang thương tích trầm trọng; trong số này đội Lân của Năm Hội có 6 thành viên bị tử thương sau cuộc huyết đấu…

Lân khai Xuân
Một con lân để múa vào ngày Tết phải hội đủ bốn quý tướng của tứ linh: hàm rồng, mũi lân, mày phượng, sau gáy có đuôi rùa.
Ngoài ra gần mép có gai như vây cá, vì ngư tượng trưng cho thành đạt, thăng tiến (cá vượt vũ môn, cá hóa long).
Ngày Tết, để mừng năm mới tốt lành, gia đình an khang, công việc phát đạt, đất nước thịnh vượng, thiên hạ thái bình, các đoàn lân chia nhau đi khắp thành phố biểu diễn với từng bộ năm lân, bảy lân, hoặc chín lân, mỗi lân một màu sắc tươi tắn khác nhau, nhưng ý nghĩa màu sắc các lân không rõ ràng lắm. Có người cho là năm lân tượng trưng cho ngũ hành, bảy lân là bảy sắc cầu vồng, cả hai đều tượng trưng cho thiên địa hài hòa, mưa thuận gió xuôi, còn chín lân là biểu tượng của sự thiêng liêng và tốt đẹp.
Nghệ thuật múa lân hiện cũng có thay đổi. Do được nghiên cứu và phát triển, nghệ thuật này vừa bảo tồn được những giá trị cổ truyền vừa có thêm những nét sáng tạo độc đáo, cũng như hiện đại hóa cho phù hợp với nhu cầu thẩm mỹ thời nay. Ngày trước chỉ có mấy cái trống cổ đệm tiếng cắc tùng, ngày nay “dàn nhạc” được bổ sung thêm nhiều nhạc cụ khác, hòa tấu thành bài bản hẳn hoi khi lân rồng biểu diễn. Người thưởng ngoạn được thỏa mãn cả tai mắt bởi nhạc điệu tưng bừng rộn rã và sắc màu tươi thắm cũng như động tác múa khéo léo nhuần nhuyễn…
Theo truyền thống đã có từ lâu đời, tất cả các đội Lân đều phải tập trung về chùa Bà Thiên Hậu tại Thị xã Thủ Dầu Một (Bình Dương), để làm lễ cúng tạ, đồng thời tham dự với bốn đội Kim Sư của Bang Phúc Kiến, trong lễ hội Rước Kiệu Bà, cùng với các vị thần bổn mạng mà người Việt gốc Hoa đã thờ kính như Huyền Thiên thượng Đế (Chơn Võ), Quan Thánh Đế Quân (Quan Công), Nam Triều Đại Đế và Cửu Thiên Huyền Nữ. Sau đó các đội Lân mới được phép trở về Chùa hay Bổn Hội Quán riêng của mình và lại hoạt động vào những ngày xuân năm tới.
Minh Tâm ANVN7 (01/2010)