Xét ở khía cạnh thứ hai thì nữ nhạc sĩ Quỳnh Hợp (BTV âm nhạc Đài Tiếng nói Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh) là một người như thế. Với số lượng sáng tác hàng trăm ca khúc, 27 album riêng, mỗi album một chủ đề riêng biệt đã phát hành, trong đó có đến 99% ca khúc phổ thơ của các thi sĩ, đủ thấy Quỳnh Hợp là “bà mai” rất “mát tay” cho mối lương duyên thơ – nhạc.
Là con gái Hà Thành thứ thiệt, Quỳnh Hợp đến với niềm đam mê âm nhạc từ nhỏ và được gia đình ủng hộ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để theo đuổi ước mơ. Tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm Nhạc – Họa Trung ương năm 1981, Quỳnh Hợp trở thành ca sĩ của Đoàn Văn công Bộ Tư lệnh Thông tin Liên lạc và sau đó là Đoàn Nghệ thuật Không quân, vừa biểu diễn vừa tập tành sáng tác ca khúc.
“Em là chiến sĩ thông tin” là ca khúc đầu tay của chị, được giới thiệu trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam năm 1982 cùng với 5 sáng tác khác, trong đó có 4 bài phổ thơ. Sự thành công ngoài mong đợi của chùm ca khúc mang tính thể nghiệm này đã thôi thúc Quỳnh Hợp theo đuổi sự nghiệp sáng tác.
Tốt nghiệp đại học sáng tác âm nhạc,năm 1995, Quỳnh Hợp xuất ngũ và gắn bó với công việc biên tập âm nhạc của Đài Tiếng nói Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Làm việc trong môi trường báo chí sôi động giúp Quỳnh Hợp có cơ hội đi nhiều, biết nhiều, hình thành nên phong cách sáng tác đa dạng của chị.
Với số lượng sáng tác khá nhiều, bao gồm nhiều thể loại, nhiều đề tài sở hữu hơn 10 giải thưởng có giá trị. Càng viết, các sáng tác của Quỳnh Hợp càng đằm thắm, sâu sắc hơn, âm nhạc mang tính suy tư, triết lý nhờ sự vận dụng nhuần nhuyễn nhịp điệu của âm nhạc hiện đại với những nét tinh hoa, tinh tế của chất liệu dân ca các vùng, miền trong cả nước…
Món quà dành cho quê hương
► Chúng ta bắt đầu bằng một chút tình yêu Hà Nội - quê hương của chị nhé!
Vâng! Gần 20 năm xa Hà Nội rồi nhưng tôi vẫn ngỡ như mới hôm qua. Bỗng dưng lại thèm cái cảm giác buổi sáng mùa thu se se, mở đầu một ngày mới bằng tô phở ở đầu ngõ rồi thả mình trên đường Phan Đình Phùng thân thuộc dưới bóng cây xanh… Hà Nội trở thành máu thịt, hồn cốt của mình rồi. Từng ngõ phố, con đường, mùi hương hoa, tiếng chuông chiều… đều dậy lên những ký ức dấu yêu cùng Hà Nội trong nghẹn ngào kỷ niệm.
Càng đi xa, những ký ức đó càng sâu nặng, dễ gì quên được. Tôi rất vui là vừa thực hiện xong hai album về Hà Nội là “Sắc đào Nhật Tân” & “Hà Nội – ngẫu hứng phố”. Đây là món quà của người con xa quê hướng về 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội với tất cả tình yêu và nỗi nhớ cùng niềm tự hào đằm sâu trong tâm hồn mình.
Hai album “Sắc đào Nhật Tân” và “Hà Nội – Ngẫu hứng PHỐ” là một Hà Nội thật gần gũi, thân thương, ẩn chứa nét văn hóa nghìn năm của đất kinh kỳ…được viết lên từ những cảm xúc nhẹ nhàng, chân thực và sâu lắng.
► Vì tình yêu ấy nên những ca khúc trong album “Sắc đào Nhật Tân” được thể hiện bằng chính giọng hát của chị?
Thể hiện tất cả những ca khúc trong album “Sắc đào Nhật Tân” không phải để “khoe” một Quỳnh Hợp - ca sĩ mà đó là cách bày tỏ riêng của tôi với Hà Nội, dâng tràn những cảm nghiệm, người nghe sẽ cảm nhận được những chuyển động nhỏ nhất của giai điệu trong từng ca khúc. Và cũng là sự trở lại với những tháng năm được hát trong màu áo lính – một thời hồn nhiên và vô tư, thật đẹp và lãng mạn.
► Hai album về Hà Nội và những sáng tác trước đó của chị đều là ca khúc phổ thơ. Việc sử dụng thơ của người khác để phổ nhạc là do Quỳnh Hợp thiếu tự tin về vốn ca từ của mình hay vì “nàng thơ” của các thi sĩ đã hút hồn chị?
Phổ thơ là cách làm việc chuyên nghiệp khi viết ca khúc. Người nhạc sĩ chỉ còn chuyên sâu phần âm nhạc sao cho thể hiện được “hồn vía” của bài thơ và chọn chất liệu âm nhạc cho phù hợp với không gian của bài thơ mình chọn phổ.
Từ thời Cổ điển, ngay dưới tiêu đề của một số bản giao hưởng, nhà soạn nhạc cũng đã trích vài câu thơ để hướng cảm xúc người nghe theo những ý đồ âm nhạc của mình. Nhiều tác giả kinh điển của âm nhạc thế giới cũng có những ca khúc thành công khi phổ thơ. Ở ta thì vẫn đan xen giữa hai cách, vừa tự viết lời hoặc phổ thơ.
Việc phổ thơ đòi hỏi khả năng tư duy âm nhạc đa chiều và sự thẩm thấu thơ của nhạc sĩ rất cao. Mỗi bài thơ, giọng thơ mang một trạng thái cảm xúc riêng, gợi mở cho nhạc sĩ về ngôn ngữ, cấu trúc và chất liệu âm nhạc. Những lúc cần thiết tôi vẫn viết ca từ cho ca khúc của mình.
Nhưng phổ thơ sẽ đem đến niềm vui cho nhiều người hơn và cũng qua việc phổ thơ tôi có nhiều bạn bè ở khắp nơi. Dù biết hay chưa nhưng giữa tôi và các nhà thơ có thơ tôi phổ nhạc, chúng tôi đã như những người bạn tri kỷ, như hiểu và quen nhau từ lâu…đó là điều rất đặc biệt trong mối lương duyên thơ – nhạc.
► Chị đặt hàng các nhà thơ hay tìm các bài thơ đã có sẵn để phổ nhạc?
Cả hai.
► Chị “hợp gu” với thơ của tác giả nào nhất?
Không phải là chuyện hợp gu hay không mà là sự chia sẻ, sự đồng điệu. Thường thì tôi chỉ dừng lại ở những bài thơ “thấy” mình trong đó, những bài thơ phù hợp với dự định âm nhạc của mình và…nếu cần thì đặt các nhà thơ bè bạn viết theo gợi ý của mình.
Tôi phổ thơ của nhiều nhà thơ và đã có những album phổ thơ của một tác giả như các album: “Lặng thầm” – thơ Dương Xuân Linh, “Chỉ là giấc mơ” – thơ Bùi Nguyễn Trường Kiên, “Dấu yêu xưa” – thơ Lương Đình Lâm, “Huế & Em” – thơ Mai Hữu Phước.
► Thực ra những bài thơ có duyên âm nhạc thì bản thân nó đã hàm chứa những chất liệu âm nhạc nội tại. Cảm xúc là rất quan trọng nhưng nó phải được chuyển tải bằng những thao tác của kỹ thuật ngôn từ và giai điệu. Những bài thơ dễ phổ nhạc là những bài có vần điệu, thanh âm rõ ràng và ngôn ngữ không quá cầu kỳ…
Cũng không hẳn thế. Những bài thơ có vần điệu, vuông vắn câu chữ, ca từ đẹp dễ phổ thành ca khúc nhưng để hay thì phải đầu tư và cần khả năng “biến hóa” cao của người sáng tác. Phổ thơ tự do thích hơn nhiều. Người nhạc sĩ tự do bày tỏ cảm xúc. Tư duy âm nhạc cũng phóng túng và đa chiều hơn. Nhưng tất cả phải bắt đầu từ sự đồng hiện cảm xúc với bài thơ.

Các album đã phát hành của NS Quỳnh Hợp
Những cơ hội nắm bắt từ nghề báo
► Sáng tác nhiều đề tài, nhiều thể loại nhưng đâu là sở trường của chị? Nói cách khác, mảng ca khúc nào tạo nên bản sắc Quỳnh Hợp?
Tôi viết khá đa dạng. Nhưng tôi đặc biệt quan tâm đến những ca khúc mang âm hưởng dân gian các vùng miền trên cả nước như Hà Nội với ca trù và dân gian Bắc Bộ, Tây Nguyên, Huế, Tây Bắc, Quan họ Bắc Ninh… Ở từng vùng âm nhạc dân gian ấy tôi đều đã có những album riêng…
Sự đa dạng ấy cần khả năng thẩm thấu sâu những vùng âm nhạc dân gian rất đặc trưng để cho ra đời những tác phẩm mang tính dân gian đương đại có thể hòa nhịp được với sinh hoạt âm nhạc hiện đại hôm nay mà không mất đi bản sắc riêng của người viết.
► Sự đa dạng ấy phải chăng do chị ảnh hưởng từ thao tác nghề nghiệp của một nhà báo?
Đó là do tri thức âm nhạc cùng khả năng cảm nhận cuộc sống, nắm bắt thông tin, khái quát sự kiện của nghề báo. Kiến thức âm nhạc cho mình có thể “tung tẩy” khi viết cả một album với một đề tài mà không bị lặp lại chính mình. Nghề báo giúp mình có cơ hội tiếp cận, nắm bắt những diễn biến của đời sống âm nhạc, giao tiếp rộng rãi cho mình hiểu biết nhiều hơn và có tầm nhìn chiến lược hơn.
► Tôi thì lại thấy thế này, các sáng của chị, nhất là việc ra album đều mang tính báo chí rất cao. Chị “đón đầu” các sự kiện chính trị, văn hóa lớn ở các vùng miền để ra album. Nếu tôi nhớ không nhầm thì năm 2005 chị có đến 7 album phát hành nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm. Và ngay cả hai album về Hà Nội vừa phát hành cũng là “đón đầu” Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.
Tôi may mắn được làm việc trong môi trường báo chí chuyên nghiệp nên ít nhiều cũng có được cái nhãn quan báo chí. Chính cái gọi là “Tầm nhìn chiến lược” ấy đã giúp mình chọn đúng thời điểm ra mắt album để khi báo chí tuyên truyền cho sự kiện thì cũng quảng bá cho album của mình.
Ví dụ dịp này tôi ra mắt 2 album về Hà Nội đón đầu Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Nhiều báo lớn đã đăng bài giới thiệu 2 album “Sắc đào Nhật Tân” và “Hà Nội – Ngẫu hứng PHỐ” không một chút do dự. Nếu để sang năm phát hành thì sẽ rất khó “chen” vì sẽ có rất nhiều sản phẩm năm chờ tới ra mắt. Như vậy xem như 2 album Hà Nội của tôi “được mùa khoe”.
► Vừa làm báo, vừa sáng tác, chị lấy đâu ra thời gian để duy trì sự sung sức ấy?
Công việc làm báo của tôi chủ yếu xoay quanh lĩnh vực âm nhạc. Ngoài công việc biên tập các chương trình âm nhạc trên sóng của Đài Tiếng Nói Nhân dân TPHCM, thỉnh thoảng tôi cũng viết báo, giới thiệu tác phẩm, phê bình âm nhạc và tham gia dạy sáng tác tại Nhạc Viện TPHCM.
Tôi sáng tác rất thường xuyên (nghề nghiệp mà) và có nhiều dự định âm nhạc của riêng mình. Sắp tới sẽ là một album toàn những bài hát mang âm hưởng dân gian các vùng đặc trưng từ Bắc vào Nam với tiếng hát của ca sĩ Trang Nhung (phát hành tết dương lịch năm nay) và ngay sau đó album về Đà Nẵng (phát hành dịp pháo hoa và kỷ niệm 35 năm giải phóng Đà Nẵng), một album về Quảng Trị, phổ thơ của các tác giả thơ là công dân của những vùng đất đó…nữa sẽ là album về Huế dịp Festival Huế 2010…vẫn là mang tính báo chí cao.
► Không chỉ với âm nhạc mà bất cứ loại hình nghệ thuật nào cũng vậy, khi ta thiên về phát triển bề rộng thì sẽ hạn chế chiều sâu…
Người ta thường nói thế. Nhưng tôi thấy “chăm hay không bằng tay quen”. Sự chăm chỉ và thường xuyên sáng tác đã cho tôi nhiều kinh nghiệm vì thế mà tôi sáng tác càng ngày càng “chắc tay” hơn. Tôi có thể chủ động về ngôn ngữ, chất liệu âm nhạc cũng như tạo được cho mình những cảm xúc cần thiết khi viết.
Tuy nhiên, tác phẩm nghệ thuật dù viết về đề tài nào cũng cần sự chân thành, yêu mến và cảm xúc của người viết mới có thể “lay thức” được tình cảm của nhiều người khi tác phẩm vang lên.
► Chị có chịu ảnh hưởng phong cách sáng tác của ai không?
- Không! Tôi được học âm nhạc bài bản nên chủ động khi sáng tác. Tôi ngưỡng mộ các sáng tác của những tác giả có cá tính. Trong các sáng tác của mình, tình yêu đôi lứa được hòa quyện với tình yêu quê hương đất nước, gắn với những vùng đất, với truyền thống…và thuần Việt.
► Phụ nữ đa tài thường đa đoan…
Tôi không đa tài nên cũng chẳng đa đoan. Tôi là người chăm chỉ và biết sẻ chia. Tôi phổ thơ không phải là không tự viết được lời ca cho những ca khúc của mình mà phổ thơ cũng là cách chia sẻ. Chia sẻ với những bài thơ mà mình chọn phổ. Khi album phát hành có nhiều nhà thơ cùng chia vui với mình, có khi còn làm “xôn xao” sinh hoạt văn nghệ của cả một vùng đất.
► Sự chia sẻ cảm xúc với công chúng thì đương nhiên rồi. Nhưng sự chia sẻ với những người thân quen thì sao? Người ta thường bảo, phía sau sự thành công của người đàn ông bao giờ cũng có bóng dáng của người đàn bà. Ngược lại…
Ai cũng vậy thôi. Nhưng phụ nữ thì khó hơn nhiều, muốn theo đuổi nghệ thuật phải có sự sẻ chia, tiếp sức, ủng hộ rất lớn của người chồng. Ông xã tôi làm trong ngành dầu khí, rất thông cảm, sẻ chia và “tiếp lửa” cho tôi. Ngược lại, tôi cũng đã “nịnh” ông xã bằng album “Thì thầm với biển khơi” viết về biển và ngành dầu khí (trong album có 2 ca khúc phổ thơ của ông xã).
► Là nhạc sĩ đã sở hữu hơn 10 giải thưởng về âm nhạc, chị quan niệm về giải thưởng như thế nào?
Được giải thưởng tôi xem đó là ghi nhận mang tính nghề nghiệp có tính khích lệ với người sáng tác nhưng đó không phải là tiêu chí cốt lõi để đánh giá giá trị của tác phẩm.
Thực tế có những tác phẩm đoạt giải thưởng cao nhưng công chúng lại chẳng hề biết đến. Ngược lại, có những tác phẩm sống trong lòng công chúng mãnh liệt nhưng nó không hề được “dán nhãn” giải thưởng nào. Với tôi, giải thưởng lớn nhất là được công chúng thuộc và hát những ca khúc của mình.
► Cảm ơn chị đã chia sẻ!
Theo PHAN TÙNG SƠN
Tạp chí NGƯỜI LÀM BÁO số tháng 10/2009