Sở dĩ ca trù còn được gọi là hát ả đào vì người hát thường gọi là Đào thị. Đào thị nhờ hát mà được nổi danh với tên Đào nương. Vậy là cũng như Thăng Long, ca trù cũng đã ngàn năm tuổi. Các tướng thời Trần là Trần Quang Khải và Trần Nhật Duật đã chế tác ra bản ca trù Múa hát bài bông để diễn ăn mừng chiến thắng quân Nguyên trong lễ hội Thái bình diên yến :
Viết hữu viết bên tẩu
Viết thiên hậu
Viết hậu thiên
Viết trúc vân
Ban tại nhật
Thánh thọ vô cương
Vạn thọ vô cương
Đến thời Lê, ca trù đã như ngàn hoa đua nở từ Bắc vào Trung, nhất là thời Hồng Đức của vua Lê Thánh Tông, ca trù được tưới nhuần bởi hai bộ Đồng Văn và Nhã nhạc . Sau đó, chính Trịnh Sâm đã chế tác ra điệu hát Thổng Thiên Thai . Đến thời Nguyễn, ca trù đã đạt tới độ thuần Việt tuyệt đỉnh bởi tài ba của Nguyễn Công Trứ.
Tới năm 1940, một nghệ nhân ca trù làng Đồng Môn, Thủy Nguyên, Hải Phòng mới 16 tuổi đã dám vào Phú Nhuận, Sài Gòn dẫn theo một số đào kép ở quê nhà vào mở Ca quán hát Ả Đào tại thành phố phương Nam này. Vậy là ca trù đã loang ra khắp Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
Nhiều nhà cách mạng trong Việt Nam Quang Phục Hội, Đông Kinh Nghĩa Thục đã dùng ca trù để tuyên truyền như Trần Đông Phong, Nguyễn Ngô Doãn, Huỳnh Thúc Kháng, Hồ Tùng Mậu, Phan Bội Châu, Võ Liên Sơn… Nhiều chiến sĩ cách mạng của Đảng như Nguyễn Văn Cừ, Xuân Thủy… đã đặt nhiều bài ca trù để động viên, giác ngộ quần chúng. Trong nhà tù đế quốc, đồng chí Xuân Thủy đã nhiều lần đóng vai các “cô” hát ả đào làm cho nhiều đồng chí khác phải nhớ.
|

Đào nương Nguyễn Như Mai, một đào nương trẻ của CLB Ca trù Thăng Long. Ảnh: Khánh Nguyên
|
Có những bài ca trù như Gặp ả đào cũ của Dương Khuê với những cái tên gọi Hồng hồng, Tuyết tuyết đã trở thành cổ điển của nghệ thuật âm nhạc này. Các nhà văn thời Tự Lực Văn Đoàn như Lê Văn Trương, Nguyễn Tuân lại rất mê ca trù. Nguyễn Tuân với tài đánh trống chầu đã trở thành huyền thoại trong lịch sử văn học hiện đại. Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính cũng là những cây ca trù đáng kính nể. Nếu ở Hà Nội, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát dám mở Nhà hát ca trù thì ở Hải Phòng lúc ấy, vợ chồng nhà thơ Lan Sơn cũng mở ở xóm Quần ngựa một Nhà hát ca trù luôn luôn mở rộng cửa đón bạn văn từ Kinh Kỳ xuống đất Cảng.
Bên cạnh nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát – người anh cả Tân nhạc quá đam mê ca trù, nhiều nhạc sĩ khác cũng bắt đầu những sáng tác Tân nhạc của mình bằng hơi thở của thanh âm ca trù. Văn Cao ngày ấy, nhờ ngấm ca trù mà đã khởi nghiệp bằng Buồn tàn thu mang hơi thở sang trọng của ca trù. Cái âm hưởng của điệu Huê Tình dường như cứ bám diết lấy ông không chỉ trong âm nhạc mà còn trong cả tình yêu. Nàng Hồng, nàng Tuyết nào đó ngày ấy cũng theo nàng Nguyễn Thị Chín vào Phú Nhuận để lại cho chàng nhạc sĩ mối “sầu vạn cổ”, khiến sau khi chàng hành phương Nam tìm nàng không thấy, trở lại Hải Phòng, chàng đã sang Thủy Nguyên đất gốc ca trù của Xứ Đông mà lênh đênh sông nước chìm đắm trong khúc Thiên Thai cổ đã ca lên đoạn Thổng: Cỏ cây chẳng chút bụi trần… thì Văn Cao cũng đã như lạc vào chốn Bồng Lai bằng một Thiên Thai riêng biệt của mình mà cảm hứng đầu tiên chàng nhận được từ sông Hương xứ Huế trên đường hành phương Nam. Bởi vậy, khi tấu lên: Này khúc Bồng Lai – là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi… là ông đã mang thét nhạc của ca trù vào Tân nhạc của mình. Cũng nhờ thấu hiểu ca trù và thương cảm làng nghề ca trù Đông Môn, Thủy Nguyên, Hải Phòng gặp nạn đói tháng 3 năm Ất Dậu 1945, có những gia đình theo phong lưu ấy mà đã phải tuyệt tự vì chết đói, có những người đã dạt trôi về Khâm Thiên, Hà Nội hát bữa cầm hơi, Văn Cao đã viết bài thơ Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc nổi tiếng với những khổ thơ đậm đặc chất ca trù:
Ai hát khúc thanh xuân hòa phấn nữ
Thanh xuân hờ thanh xuân
Bước gần ta chút nữa thêm gần
Khoảng giữa tuổi thanh xuân nghe loạn trùng hút tủy
Ai hủy đời trên tang trống nhỉ?...

Cũng vẫn vấn vương điệu Huê tình mà Văn Cao còn trăn trở viết đi viết lại Trương Chi cho tới khi sau Cách Mạng Tháng Tám thành công. Sau này, dù ca trù đã chìm nghỉm, ngỡ không gượng dậy từ sau cải cách ruộng đất 1953, Văn Cao cũng như Nguyễn Xuân Khoát vẫn rất thân thiết với những nghệ nhân hát ca trù “chui” như bà Quách Thị Hồ, ông Đinh Khắc Ban (đàn đáy)
Khi thời quan liêu, bao cấp cáo chung cũng là khi ca trù sống lại cùng thời đổi mới. Song do thất truyền quá lâu nên việc phục sinh ca trù là việc không dễ. Những nghệ nhân ca trù gốc đã quá già, có người đã đi về cõi vĩnh hằng như bà Quách Thị Hồ. Bởi vậy việc gấp rút mở ra những trung tâm dạy hát ca trù – nghệ thuật âm nhạc thuần Việt ở đỉnh cao – là việc khiến ta nhiều tin tưởng. Ca trù bất tử bởi sức sống mạnh mẽ của nó. Điều đó đã được minh chứng bằng việc UNESCO đã công nhận ca trù và Quan họ, là hai di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại . Giờ đây, hành tinh đã vọng khúc ca trù Việt Nam.
Nguyễn Trọng ANVN5 (11/2009)